Thi 74
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Đức Chúa Trời ôi! vì sao Chúa bỏ chúng tôi luôn luôn? Nhân sao cơn giận Chúa nổi phừng cùng bầy chiên của đồng cỏ Chúa?
1E KE Akua, o ke aha kau mea e mamao mau loa aku ai? No ke aha la e wela mai ai kou huhu i na hipa o kou aina?
2Xin hãy nhớ lại hội Chúa mà Chúa đã được khi xưa, Và chuộc lại đặng làm phần cơ nghiệp của Chúa; Cũng hãy nhớ luôn núi Si-ôn, là nơi Chúa đã ở.
2E hoomanao oe i kou ekalesia au i kuai kahiko loa ai, Ka ohana o kou hooilina au i kuai ai; O keia mauna Ziona kahi i noho ai oe.
3Cầu xin Chúa đưa bước đến các nơi hư nát đời đời: Kẻ thù nghịch đã phá tan hết trong nơi thánh.
3E hoeu i kou wawae i ka neoneo mau ana; I na mea a pau a ka enemi i hana hewa ai iloko e kou wahi hoano.
4Các cừu địch Chúa đã gầm hét giữa hội Chúa; Chúng nó dựng cờ chúng nó để làm dấu hiệu.
4Ua uwo kou poe enemi iloko o na anaina; Ua kau lakou i ko lakou mau hae i hoailona.
5Chúng nó giống như kẻ giơ rìu lên Trong đám rừng rậm kia.
5Kaulana aku la ke kanaka, E like me kona hapai ana i na koi i na laau paapu.
6Bây giờ chúng nó dùng rìu và búa Đập bể hết thảy vật chạm-trổ.
6Aka ano, ke wawahi nei lakou i kona mea i kalaiia, Me na koi a me na hamare.
7Chúng nó đã lấy lửa đốt nơi thánh Chúa, Làm cho chỗ danh Chúa ở ra phàm đến đất.
7Ua hoolei lakou i ke ahi iloko o kou wahi hoano, Ua hoohaumia lakou ilalo i ka lepo i ka halelewa o kou inoa.
8Chúng nó nói trong lòng rằng: Chúng ta hãy hủy phá chung cả hết thảy đi. Chúng nó đã đốt các nhà hội của Đức Chúa Trời trong xứ.
8I iho la lakou ma ko lakou naau, E luku pu kakou ia lakou; Ua hoopau i ke ahi i na halehalawai a pau o ke Akua ma ka aina.
9Chúng tôi chẳng còn thấy các ngọn cờ chúng tôi; Không còn đấng tiên tri nữa, Và giữa chúng tôi cũng chẳng có ai biết đến chừng nào.
9Aole kakou i ike i ko kakou mau hoailona; Aole he kaula hou ae; Aohe mea iwaena o kakou i ike i ka loihi ana.
10Đức Chúa Trời ôi! kẻ cừu địch sẽ nói sỉ nhục cho đến chừng nào? Kẻ thù nghịch há sẽ phạm danh Chúa hoài sao?
10E ke Akua, pehea ka loihi o ko ka enemi hoino ana mai? E hoino wale anei ka enemi i kou inoa i ka manawa pau ole?
11Sao Chúa rứt tay lại, tức là tay hữu Chúa? Khá rút nó ra khỏi lòng, và tiêu diệt chúng nó đi!
11No ke aha la oe i hoihoi aku ai i kou lima, i kou lima akau? E unuhi ae ia mai loko ae o kou poli.
12Dầu vậy, Đức Chúa Trời là Vua tôi từ xưa, Vẫn làm sự cứu rỗi trên khắp trái đất.
12No ka mea, o ke Akua ko'u Alii mai kinohi mai, E hana ana ma ke ola iwaena o ka honua.
13Chúa đã dùng quyền năng Chúa mà rẽ biển ra, Bẻ gãy đầu quái vật trong nước.
13Hookaawale ae la oe i ke kai me kou ikaika: Wawahi iho la oe i na poo o na kerokodila ma na wai.
14Chúa chà nát đầu lê-vi-a-than, Ban nó làm thực vật cho dân ở đồng vắng.
14Ulupa iho la oe i na poo o ka leviatana, A haawi ia ia i ai na na kanaka o ka waonahele.
15Chúa khiến suối và khe phun nước, Và làm cho khô các sông lớn.
15Hookaawale ae la oe i ke kumuwai me ka muliwai: Hoomaloo iho la oe i na waikahe ikaika.
16Ngày thuộc về Chúa, đêm cũng vậy; Chúa đã sắm sửa mặt trăng và mặt trời.
16Nou no ke ao, nou no hoi ka po: Ua hoomakaukau oe i ka malamalama a me ka la.
17Chúa đã đặt các bờ cõi của đất, Và làm nên mùa hè và mùa đông.
17Ua hoonohonoho oe i na palena a pau o ka honua; Ua hana hoi oe i ka hoilo a me ka makalii.
18Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy nhớ rằng kẻ thù nghịch đã sỉ nhục, Và một dân ngu dại đã phạm đến danh Ngài.
18E hoomanao oe i keia, ua hoino wale ka enemi, e Iehova, A ua kuamuamu wale na kanaka naaupo i kou inoa.
19Xin chớ phó cho thú dữ linh hồn bò câu đất của Chúa; Cũng đừng quên hoài kẻ khốn cùng của Chúa.
19Mai noho a haawi i ka uhane o kau manu nunu i ka poe ino: Mai hoopoina mau loa i ke anaina o kou poe ilihune.
20Xin Chúa đoái đến sự giao ước; Vì các nơi tối tăm của đất đều đầy dẫy sự hung bạo.
20E manao mai oe i ka berita; No ka mea, ua paapu na wahi pouli o ka honua i na wahi e noho ai ka lalauwale.
21Nguyện kẻ bị hà hiếp chớ trở về hổ thẹn; Nguyện kẻ khốn cùng và người thiếu thốn ngợi khen danh Chúa.
21Mai noho a hoi hou ka poe i hooluhihewaia me ka hilahila; Aka, e hoolea aku i kou inoa ka poe ilihune a me ka haahaa.
22Hỡi Đức Chúa Trời, hãy chỗi dậy, binh vực duyên cớ Chúa. Hãy nhớ lại thể nào kẻ ngu dại hằng ngày sỉ nhục Chúa.
22E ku iluna, e ko Akua, e hakaka i ko'u hakaka: E hoomanao i ko ke kanaka naaupo hoino wale ana ia oe i na la a pau.
23Xin chớ quên tiếng kẻ cừu địch Chúa: Sự ồn ào của kẻ dấy nghịch cùng Chúa thấu lên không ngớt.
23Mai hoopoina i ka leo o kou poe enemi: Ke mahuahua mai nei ka haunaele ana o ka poe ku e ia oe.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.