Thi 41
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Phước cho người nào đoái đến kẻ khốn cùng! Trong ngày tai họa Đức Giê-hô-va sẽ giải cứu người.
1POMAIKAI ke kanaka i manao i ka popilikia: E hoakea mai o Iehova ia ia i ka wa ino.
2Đức Giê-hô-va sẽ gìn giữ người, bảo tồn mạng sống người: Người sẽ được phước trên đất, Và Ngài chắc không phó người cho ý muốn của kẻ thù nghịch người.
2E hoomalu mai o Iehova a e hoomau i kona ola; A e hoopomaikaiia no ia maluna o ka honua; Aole hoi oe e haawi ia ia i ka makemake o kona poe enemi.
3Đức Giê-hô-va sẽ nâng đỡ người tại trên giường rũ liệt; Trong khi người đau bịnh, Chúa sẽ cải dọn cả giường người.
3E hooikaika mai no hoi o Iehova ia ia maluna o kahi moe e nawaliwali ai: E pau no hoi ia oe kona moena i ka koomakaukauia i kona mai ana.
4Tôi đã nói: Đức Giê-hô-va ôi! xin thương xót tôi, Chữa lành linh hồn tôi, vì tôi đã phạm tội cùng Ngài.
4I aku la au, E Iehova, e aloha mai ia'u; E hoola i kuu uhane, no ka mea, ua hana hewa aku au ia oe.
5Những kẻ thù nghịch tôi chúc tôi điều ác, mà rằng: Nó sẽ chết chừng nào? Danh nó sẽ diệt khi nào?
5Ke olelo hewa nei ko'u poe enemi no'u; Ahea la e make ia, a e lilo kona inoa?
6Nếu có người đến thăm tôi, bèn nói những lời dối trá; lòng nó chứa cho nó gian ác; Rồi nó đi ra ngoài nói lại.
6Ina i hele mai ia e ike mai, Ua olelo no ia ma ka lapuwale; Houluulu hoi kona naau i ka hewa nona iho; A puka ia iwaho, hai aku la no ia.
7Hết thảy những kẻ ghét tôi đều xầm xì nghịch tôi; Chúng nó toan mưu hại tôi:
7Hawanawana ku e pu mai ia'u na mea a pau i inaina mai ia'u; Kukakuka ku e mai lakou i ka hewa no'u.
8Một thứ bịnh ác dính đeo trên mình nó; Kìa, bây giờ nó nằm rồi, ắt sẽ chẳng hề chỗi dậy nữa.
8He mea ino ka i pili loa ia ia: A ke moe ia ia, aole e ala hou ae.
9Đến đỗi người bạn thân tôi, Mà lòng tôi tin cậy, và đã ăn bánh tôi, Cũng giơ gót lên nghịch cùng tôi.
9Oiaio, o ko'u hoaaloha a'u i hilinai aku ai, Ka mea i ai i ka'u berena, Oia ka i hapai ku e i kona kuekue wawae ia'u.
10Đức Giê-hô-va ôi! xin hãy thương xót tôi, và nâng đỡ tôi, Thì tôi sẽ báo trả chúng nó.
10Aka, e aloha mai oe, e Iehova, ia'u; E hooku hou ia'u iluna e uku aku au ia lakou.
11Nếu kẻ thù nghịch không thắng hơn tôi, Nhờ đó tôi sẽ nhìn biết Chúa đẹp lòng tôi.
11Ma keia mea i ike ai au i kou lokomaikai ana mai ia'u: No ka mea, aole i hooho olioli ko'u enemi maluna o'u.
12Song, nhân vì sự thanh liêm tôi, Chúa nâng đỡ tôi, Lập tôi đứng vững ở trước mặt Chúa đời đời.
12A owau nei la, ke hooku paa nei oe ia'u i ko'u pono, Ke hoonoho mau ia'u imua o ko'u alo.
13Đáng ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Từ trước vô cùng cho đến đời đời! A-men, A-men!
13E hoomaikai mau ia'ku o Iehova ke Akua o Iseraela, Mai ke ao kumu ole, a i ke ao pau ole. Amene, Amene.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.