Thi 104
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi, Chúa thật lớn lạ k”. Mặc sự sang trọng và oai nghi!
1Aw ka hinghaih, Angraeng to tahamhoihaih paek ah; Aw Angraeng ka Sithaw, nang loe na len parai; nang loe lensawk thacakhaih hoiah nam thoep.
2Chúa bao phủ mình bằng ánh sáng khác nào bằng cái áo, Giương các từng trời ra như cái trại.
2Anih loe aanghaih to kahni baktiah angkhuk; vannawk to kahni im baktiah payuengh,
3Ngài chấp các đòn tay của phòng cao Ngài trong các nước, Dùng mây làm xe Ngài, Và đi bước trên cánh gió.
3a ohhaih ranui im tung to tuinawk thungah a suek; tamainawk to hrang lakok ah a sak moe, takhi ih pakhraehnawk nuiah a caeh,
4Ngài dùng gió làm sứ Ngài, Ngọn lửa làm tôi tớ Ngài.
4angmah ih vankaminawk to takhi baktiah a sak; angmah ih toksah kaminawk to hmaipalai baktiah a sak;
5Ngài sáng lập đất trên các nền nó; Đất sẽ không bị rúng động đến đời đời.
5dungzan khoek to angthuih ving han ai ah, long angdoethaih ahmuen to a sak.
6Chúa lấy vực sâu bao phủ đất như bằng cái áo, Nước thì cao hơn các núi.
6Long to kahni hoiah khuk baktih toengah kathuk tui hoiah na khuk; maenawk nuiah tui na ohsak.
7Chúa hăm dọa, nước bèn giựt lại; Nghe tiếng sấm Chúa, nước lật đật chạy trốn.
7Na thuitaek pongah tuinawk loe cawnh o; nangmah ih khopazih tuen pongah karangah a cawnh o.
8Núi lố lên, trũng sụp sâu xuống chốn mà Chúa đã định cho nó.
8Tuinawk loe mae nuiah long o tahang; azawnnawk ah long o tathuk moe, nihcae han na sak pae ih ahmuen ah a long o.
9Chúa định chân cho nước để nước không hề qua khỏi, Không còn trở lại ngập đất nữa.
9Tuinawk amlaem o moe, long to uem han ai ah, tui doeh amsah han ai ah, angzithaih ramri to na suek pae.
10Ngài khiến các suối phun ra trong trũng, Nó chảy giữa các núi.
10Maenawk salak ih azawnnawk ah tui to na pueksak.
11Nhờ các suối ấy hết thảy loài thú đồng được uống; Các lừa rừng giải khát tại đó.
11Taw ah kaom moinawk boih hanah na naeksak; taw ih hrangnawk tui anghae na dipsak.
12Chim trời đều ở bên các suối ấy, Trổi tiếng nó giữa nhánh cây.
12Van ih tavaanawk loe tui taengah tabu boh o; thing tanghangnawk salakah hang o.
13Từ phòng cao mình, Ngài tưới các núi; Đất được đầy dẫy bông trái về công việc Ngài.
13A ohhaih ranui ih im hoiah maenawk to tui a bawh; long loe na toksakhaih atho hoiah zok amhah boeh.
14Ngài làm cho cỏ đâm lên cho súc vật, Cây cối để dùng cho loài người, Và khiến thực vật sanh ra từ nơi đất.
14Anih mah maitawnawk hanah phroh amprawksak; kami hanah anqam kahing amprawksak pongah, kami loe long hoiah caaknaek to a hnuk,
15Rượu nho, là vật khiến hứng chí loài người, Và dầu để dùng làm mặt mày sáng rỡ, Cùng bánh để thêm sức cho lòng loài người.
15kami poeknawmsak thaih misurtui, mikhmai pansak hanah situi, palungthin thacaksak hanah takaw to a paek.
16Cây cối Đức Giê-hô-va được đầy mủ nhựa, Tức là cây hương nam tại Li-ban mà Ngài đã trồng,
16Angraeng ih thingnawk loe tui amhah o; Lebanon ah a thling ih sidar thingnawk nuiah,
17Là nơi loài chim đóng ổ nó; Còn con cò, nó dùng cây tùng làm chỗ ở của nó.
17tavaanawk tabu boh o; tahnong kapaw tuilawnnawk loe far thingnawk nuiah tabu boh o.
18Các núi cao là nơi ở của dê rừng; Hòn đá là chỗ ẩn núp của chuột đồng.
18Maesangnawk to saza hoi satharnawk prathaih ahmuen ah a suek; cathaengnawk loe savehnawk ohhaih ahmuen ah a suek pae.
19Ngài đã làm nên mặt trăng để chỉ thì tiết; Mặt trời biết giờ lặn.
19Atue panoek hanah khrah to a sak; ni mah doeh niduemhaih atue to panoek.
20Chúa làm sự tối tăm, và đêm bèn đến; Khi ấy các thú rừng đi ra;
20Vinghaih to na sak moe, khoving naah, taw ih moinawk boih avah o.
21Những sư tử tơ gầm hét về miếng mồi, Và cầu xin Đức Chúa Trời đồ ăn chúng nó.
21Saning nawk kaipuinawk loe taw ih moinawk kaek hanah a hang o; Sithaw khaeah caak han koi moi to pakrong o.
22Mặt trời mọc lên, chúng nó bèn rút về, Nằm trong hang chúng nó.
22Ni tacawt naah nawnto angpop o moe, angmacae ih thlungkhaw thungah tabok o.
23Bấy giờ loài người đi ra, đến công việc mình, Và làm cho đến chiều tối.
23To naah kami loe toksak hanah caeh moe, duembang khoek to tok a sak.
24Hỡi Đức Giê-hô-va, công việc Ngài nhiều biết bao! Ngài đã làm hết thảy cách khôn ngoan; Trái đất đầy dẫy tài sản Ngài.
24Aw Angraeng, na toksakhaih loe pop parai! To hmuennawk boih to palunghahaih hoiah na sak; long loe na sak ih hmuennawk hoiah koi,
25Còn biển lớn và rộng mọi bề nầy! ỳ đó sanh động vô số loài vật nhỏ và lớn.
25kakawk parai tuipui doeh oh moe, kathoeng kalen moinawk hoi kroeklaek ai, long ah kavak moinawk doeh oh o.
26Tại đó tàu thuyền đi qua lại, Cũng có lê-vi-a-than mà Chúa đã nắn nên đặng giỡn chơi nơi đó.
26Palongpuinawk loe to ahmuen ah caeh o; to ah amhai hanah, na sak ih kalen pui Leviathan doeh oh.
27Hết thảy loài vật nầy trông đợi Chúa, Hầu cho Chúa ban đồ ăn cho chúng nó theo giờ.
27To moinawk loe nang khaeah ni amha o, atue phak naah to moinawk to na pacah.
28Chúa ban cho chúng nó, chúng nó nhận lấy; Chúa sè tay ra, chúng nó được no nê vật tốt.
28Na paek ih buh to ni, nihcae mah caak o; na ban pathae naah nihcae loe kahoih hmuen hoiah koi o.
29Chúa giấu mặt, chúng nó bèn bối rối, Chúa lấy hơi thở chúng nó lại, chúng nó bèn tắt chết, và trở về bụi đất.
29Mikhmai na hawk naah, nihcae raihaih tong o; nihcae anghahhaih takhi na lak pae ving naah, nihcae loe duek o moe, maiphu ah amlaem o let.
30Chúa sai Thần Chúa ra, chúng nó được dựng nên; Chúa làm cho mặt đất ra mới.
30Na Muithla to na patoeh moe, nihcae to na sak; long krang hae nang thasak let.
31Nguyện sự vinh hiển Đức Giê-hô-va còn đến mãi mãi; Nguyện Đức Giê-hô-va vui vẻ về công việc Ngài.
31Angraeng lensawkhaih loe dungzan khoek to om poe tih; Angraeng loe a toksakhaihnawk pongah anghoe tih.
32Ngài nhìn đất, đất bèn rúng động; Ngài rờ đến núi, núi bèn lên khói.
32Long to a khet moe, anghuensak; anih mah maenawk sui naah, hmaikhue tacawt o.
33Hễ tôi sống bao lâu, tôi sẽ hát xướng cho Đức Giê-hô-va bấy lâu; Hễ tôi còn chừng nào, tôi sẽ hát ngợi khen Đức Chúa Trời tôi chừng nấy.
33Ka hing thung Angraeng khaeah laa ka sak han; khosak nathung ka Sithaw pakoehhaih laa to ka sak han.
34Nguyện sự suy gẫm tôi đẹp lòng Ngài; Tôi sẽ vui vẻ nơi Đức Giê-hô-va.
34Ka poekhaih loe angmah khaeah anghoehaih ah om nasoe; kai loe Angraeng ah kang hoe han.
35Nguyện tội nhân bị diệt mất khỏi đất, Và kẻ ác chẳng còn nữa. Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Ha-lê-lu-gia!
35Kazae kaminawk loe long hoiah anghmaa o nasoe loe, kasae kaminawk doeh om o hmah lai nasoe. Aw ka hinghaih, Angraeng to tahamhoihaih paek ah. Angraeng to pakoeh ah.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.