Thi
Chapter 68
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Kadede Kap (Pohnpe…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)
1Nguyện Đức Chúa Trời chỗi dậy, khiến thù nghịch Ngài tản lạc, Và làm cho những kẻ ghét Ngài phải trốn trước mặt Ngài.
1KOT en kotida, pwe a imwintiti en kamueit paja n , o me kailo n ki i, en ta n wei.
2Như khói tỏa thể nào, Chúa sẽ làm tan chúng nó thể ấy; Như sáp tan chảy trước lửa làm sao, Những kẻ ác sẽ bị diệt trước mặt Đức Chúa Trời làm vậy.
2Kom kotin paki irail wei dueta adiniai, dueta krij kin pei paja n nan kijiniai, iduen me doo ja n Kot akan en joredi.
3Nhưng người công bình sẽ vui vẻ, hớn hở trước mặt Đức Chúa Trời; Phải, họ sẽ nức lòng mừng rỡ.
3A me pu n kan en pereperen o popol mon jila n en Kot o ren pereperen melel.
4Hãy hát xướng cho Đức Chúa Trời, hãy ngợi khen danh Ngài; Khá đắp đường cái cho Đấng cỡi ngựa đi ngang qua đồng bằng: Đức Giê-hô-va là danh Ngài; hãy vui mừng trước mặt Ngài.
4Kauli o n Kot, kauli o n mar a! Kaonopada al o o n i, me kotiwei nan jap tan, a maraneki leowa komail perenki i!
5Đức Chúa Trời ở nơi thánh Ngài, Là Cha kẻ mồ côi, và quan xét của người góa bụa.
5Pwe i Jam en me japoupou kan o jaunkapu n en li odi kan. I Kot nan japwilim a tanpaj jaraui.
6Đức Chúa Trời làm cho kẻ cô độc có nhà ở, Đem kẻ bị tù ra hưởng được may mắn; Song những kẻ phản nghịch phải ở đất khô khan.
6Kot me kotin kadire kila jeri ko im en me kin kelep, me kin lapwada me jalidi kan, pwen pwaida o pereperen a me katiwo kan pan mimieta nan wajan lek.
7Hỡi Đức Chúa Trời, khi Chúa đi ra trước dân Chúa, Và đi tới trong đồng vắng,
7Mai n Kot, ni anjau kom kotiwei mon japwilim omui aramaj akan, ni omui kotiwei nan jap tan!
8Thì đất rúng động, các từng trời đặt ra nước trước mặt Đức Chúa Trời; Núi Si-nai kìa cũng rúng động trước mặt Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
8I anjau jap o rerer, o audepan la n kan moredier mon jila n en Kot, nana Jinai mon jila n en Kot en Ijrael.
9Đức Chúa Trời ơn, Chúa giáng mưa lớn trên sản nghiệp Chúa, Khi nó mệt mỏi Chúa bổ nó lại.
9Mai n Kot, kom kotin kamoredier katau mau, o kom kotin kamauradar japwilim omui jojo, me mo n edier
10Hỡi Đức Chúa Trời, hội Chúa ở tại đó; Vì lòng nhân từ, Chúa sắm sửa vật tốt cho kẻ khốn cùng.
10Pwe japwilim omui pwin diar waja, me a kak kotikot ia. Mai n Kot, kom kotin apwalilar me luet akan duen omui kala n an.
11Chúa truyền mạng lịnh ra: Các người đàn bà báo tin thật một đoàn đông lắm.
11leowa kotikidier a majan ki pwin en wanporon kalaimun akan.
12Các vua có đạo binh chạy trốn, họ chạy trốn; Còn người đàn bà ở lại trong nhà chia của cướp.
12Nanmarki en karij toto ta n wei mada n , o waun im akan nek paja n er, me re atia ja n ar imwintiti kan.
13Khi các ngươi nằm nghỉ ở giữa chuồng chiên, Thì giống như cánh bò câu bọc bạc, Và lông nó bọc vàng xanh.
13Ni omail kairu nan pu n en noumail pwin man akan, komail rajo n pa en muroi men, me li n an dueta jilper o pa a kan dueta kold li n an.
14Khi Đấng toàn năng tản lạc các vua tại đó, Thì xứ trở nên trắng như lúc mưa thuyết tại Sanh-môn.
14Ma me Manaman o lao kotin kamueit paja n nanmarki kan, nana Jalmon rotorot ap pan marainla.
15Núi Ba-san là núi của Đức Chúa Trời; Núi Ba-san có nhiều chót.
15Nana Pajan iei nana en Kot; Pajan nana kalaimun eu.
16Hỡi các núi có nhiều chót, sao các ngươi ngó cách ganh ghét Núi mà Đức Chúa Trời đã chọn làm nơi ở của Ngài? Phải Đức Giê-hô-va sẽ ở tại đó đến đời đời.
16Menda komail nana kalaimun akan kin kilekila n ap peirin o n nana, me Kot kotin piladar en kotikot ia? o leowa pan kotikot waja o kokolata.
17Xe của Đức Chúa Trời số là hai vạn, Từng ngàn trên từng ngàn; Chúa ở giữa các xe ấy y như tại Si-nai trong nơi thánh.
17War en Kot me kid toto pan pak kid; leowa kotikot re ’rail ni nana Jinai.
18Chúa đã ngự lên trên cao, dẫu theo những phu tù; Chúa đã nhận lễ vật giữa loài người, và giữa kẻ phản nghịch cũng vậy, Hầu cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời được ở với chúng nó.
18Komui kotidala n poa o jaliedier me jalidi kan, o kom kotin ale o n aramaj pai kan, pil o n ir me katiwo kan, pwe leowa en kotikot waja o.
19Đáng ngợi khen Chúa thay, Là Đấng hằng ngày gánh gánh nặng của chúng tôi, Tức là Đức Chúa Trời, sự cứu rỗi của chúng tôi.
19Kapi n a leowa nin ran akan karoj; Kot kin kotiki o n kitail katoutou patail, ap pil kotin jauaja kitail.
20Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời giải cứu chúng tôi; Aáy là nhờ Chúa Giê-hô-va mà loài người được tránh khỏi sự chết.
20Atail Kot iei jauaj patail, o leowa Kaun kin kotin dorela ja n mela.
21Nhưng Đức Chúa Trời sẽ đạp nát đầu kẻ thù nghịch Ngài, Đỉnh tóc của kẻ cứ phạm sự gian ác.
21Melel, Kot pan kotin kawela mo n an a imwintiti kan, o a pan kotin lejer paja n takain mo n an ir, me dadaurata ar katiwo.
22Chúa đã phán rằng: Từ Ba-san ta sẽ dẫn dân ta về, Đem chúng nó lên khỏi biển sâu;
22leowa kotin majanier: I pan kapure do n ir ja n nan Pajan, I pan wa ir do ja n nan kapin madau.
23Để ngươi dầm chân mình trong huyết, Và lưỡi chó ngươi cũng được phần trong kẻ thù nghịch ngươi.
23Pwe koe en tiakedi on nan ntan imwintiti kan, o noum kidi kan en tamotamo.
24Hỡi Đức Chúa Trời, chúng nó đã thấy cách Chúa đi, Tức cách Đức Chúa Trời, là Vua tôi, đi vào nơi thánh.
24Mai n Kot, a janjal duen omui kotikot jili, duen omui kotikot jili nan mol omui jarawi, ai Kot o ai Nanmwarki.
25Các người hát xướng đi trước, kẻ đàn nhạc theo sau, ỳ giữa có những con gái trẻ đánh trống cơm.
25Pwin en kaul kin tio n , ap pwin en jaunkaja n nan pu n en peinakap akan, me wiadar aip.
26Hỡi những kẻ nguyên do nơi Y-sơ-ra-ên mà ra, trong các hội Hãy chúc tụng Đức Chúa Trời, là Chúa.
26Kapina Kot Ieowa nan momodijo kan, komail me kijan parer en Ijrael.
27Kìa, Bê-gia-min nhỏ, là kẻ cai trị chúng nó; Các quan trưởng Giu-đa, và bọn của họ; Các quan trưởng Sa-bu-lôn, và các quan trưởng Nép-ta-li.
27Peniamin tikitik kin kakaun nan pu n ar, jaupeidi en Iuda ia n aki japwilim ar akan toto, jaupeidi en Jepulon, o jaupeidi en Naptali.
28Đức Chúa Trời ngươi đã ban sức lực cho ngươi: Hỡi Đức Chúa Trời, xin hãy khiến vững bền việc Chúa đã làm cho chúng tôi.
28Omail Kot kotin kauadar omail wei; Mai n Kot, I me komui en kotin kate n ete n edi, pwe japwilim omui dodok.
29Bởi cớ đền thờ của Chúa tại Giê-ru-sa-lem, Các vua sẽ đem dâng lễ vật cho Chúa.
29Nanmarki kan pan wa do n uk ar kijakir pweki omail im en kaudok nan Ierujalem.
30Xin hãy mắng thú trong lau sậy, Quở đoàn bò đực với những bò con của các dân, Là những người đem nén bạc quì xuống dâng cho, Xin Chúa hãy tản lạc những dân tộc ưa thích sự giặc giã.
30Kom kotin lipor o n man en nan rau, o pwin kau ol ia n aki na kan, o wei kan, me kin pepei pweki kijin moni. Kotin kamueit paja n wek kan, me kin men mauin.
31Những công-hầu sẽ từ Ê-díp-tô mà ra; Ê-thi-ô-bi sẽ lật đật giơ tay lên cùng Đức Chúa Trời.
31Jaupedi en Akipten pan pwarado; men Moren pan pokadan Kot pa’rail.
32Hỡi các nước của đất, hãy hát xướng cho Đức Chúa Trời; Khá hát ngợi khen Chúa,
32Komail wei kan nin jappa kauli o n Kot, kakaul o kapi n a Ieowa.
33Tức là Đấng cỡi trên các từng trời thái cổ; Kìa, Ngài phát tiếng ra, là tiếng có sức lớn.
33I, me kin kotikot jili nanla n , nanla n en majia! Kila n , a kin kotiki o n japwilim a nanjapwe manaman.
34Hãy tôn quyền năng cho Đức Chúa Trời: Sự oai nghiêm Ngài ở trên Y-sơ-ra-ên, và quyền năng Ngài ở trong các mây.
34Komail kamelele mana en Kot! A li n an mi ren Ijrael, o a mana mi nan tapok kan.
35Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa thật đáng sợ trong nơi thánh Chúa: Chính Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ban sức lực và quyền năng cho dân sự Ngài. Đáng ngợi khen Đức Chúa Trời thay!
35Kot meid kapuriamui nan mole jaraui. I Kot en Ijrael. A pan kotiki o n aramaj akan mana o kelail. Kapina Kot!

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.