1 Мойсея 11
Kulish and Puluj Bible (1905)Translation
Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1І була вся земля мова одна і слово одно.
1Vả, cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng.
2І сталось, як мандрували вони від схід сонця, що знайшли поділлє в Синеяр землї, та й осїлись там.
2Nhưng khi ở Đông phương dời đi, người ta gặp một đồng bằng trong xứ Si-nê-a, rồi ở tại đó.
3І мовляли одно ʼдному: Нумо лишень робити цеглу та випалювати. І була в їх цегла за камінь а земляна смола за вапну.
3Người nầy nói với người kia rằng: Hè! chúng ta hãy làm gạch và hầm trong lửa. Lúc đó, gạch thế cho đá, còn chai thế cho hồ.
4І мовляли: Нумо споруджувати місто із баштою, щоб її верх був до небес, і зробімо собі память, щоб не розпорошитись нам по всїй землї.
4Lại nói rằng: Nào! chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời; ta hãy lo làm cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất.
5І зійшов Господь побачити город і башту, що споруджували сини чоловїчі.
5Đức Giê-hô-va bèn ngự xuống đặng xem cái thành và tháp của con cái loài người xây nên.
6І рече Господь: Оце ж рід один, мова одна в усїх, а се тількі почин їх заходу коло працї; і тепер нїщо їх не зупинить нї від чого, що задумали зробити.
6Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ tiếng; và kia kìa công việc chúng nó đang khởi làm; bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được.
7Зійдемо ж униз та помішаємо їх мову, щоб не розуміли одно ʼдного.
7Thôi! chúng ta, hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia.
8І розсїяв їх ізвідти Господь по лицю всієї землї; і покинули споруджувати город і башту.
8Rồi, từ đó Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành.
9Тим проложено йому імя Бабель: бо там помішав Господь мову всієї землї, і звідти розсїяв їх Господь по лицю всієї землї.
9Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.
10А се постань Семова. Було Семові сто лїт, як появив Арфаксада, у другому роцї по потопі.
10Đây là dòng dõi của Sem: Cách hai năm, sau cơn nước lụt, Sem được một trăm tuổi, sanh A-bác-sát.
11І пожив Сем після того, як появив Арфаксада, пятсот год, і появив сини й дочки, та й умер.
11Sau khi Sem sanh A-bác-sát rồi, còn sống được năm trăm năm, sanh con trai con gái.
12І пожив Арфаксад трийцять і пять год, і появив Селу.
12A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sanh Sê-lách.
13А пожив Арфаксад після того, як появив Селу, чотири ста і три роки, та й появив сини й дочки.
13Sau khi A-bác-sát sanh Sê-lách rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con gái.
14І пожив Села трийцять год, і появив Ебера.
14Sê-lách được ba mươi tuổi, sanh Hê-be.
15А пожив Села після того, як появив Ебера, чотири ста і три роки, і появив сини й дочки.
15Sau khi Sê-lách sanh Hê-be rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con gái.
16І пожив Ебер трийцять і чотири годи і появив Пелега.
16Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sanh Bê-léc.
17А пожив Ебер після того, як появив Пелега, чотири ста і трийцять год, і появив сини й дочки.
17Sau khi Hê-be sanh Bê-léc rồi, còn sống được bốn trăm ba mươi năm, sanh con trai con gái.
18І пожив Пелег трийцять год, і появив Регува.
18Bê-léc được ba mươi tuổi, sanh Rê-hu
19А пожив Пелег після того, як появив Регува, двістї і девять год, і появив сини й дочки.
19Sau khi Bê-léc sanh Rê-hu rồi, còn sống được hai trăm chín năm, sanh con trai con gái.
20І пожив Регу трийцять і два роки, і появив Серуга.
20Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sanh Sê-rúc.
21А пожив Регу після того, як появив Серуга, двістї і сїм год, і появив сини й дочки.
21Sau khi Rê-hu sanh Sê-rúc rồi, còn sống được hai trăm bảy năm, sanh con trai con gái.
22І пожив Серуг трийцять год, і появив Нагора.
22Sê-rúc được ba mươi tuổi, sanh Na-cô.
23А пожив Серуг після того, як появив Нагора, двістї год, і появив сини й дочки.
23Sau khi Sê-rúc sanh Na-cô rồi, còn sống được hai trăm năm, sanh con trai con gái.
24І пожив Нагор двайцять і девять год, і появив Тару.
24Na-cô được hai mươi chín tuổi, sanh Tha-rê.
25А пожив Нагор після того, як появив Тару, сотню і девятнайцять год, і появив сини й дочки.
25Sau khi Na-cô sanh Tha-rê rồi, còn sống được một trăm mười chín năm, sanh con trai con gái.
26І пожив Тара сїмдесять год, і появив Аврама, Нагора й Гарана.
26Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sanh Aùp-ram, Na-cô và Ha-ran.
27А се постань Тарина. Тара появив Аврама, Нагора і Гарана; Гаран же появив Лота.
27Đây là dòng dõi của Tha-rê: Tha-rê sanh Aùp-ram, Na-cô và Ha-ran; Ha-ran sanh Lót.
28І вмер Гаран перш отця свого Тари в землї ріднїй своїй, в Урі Халдейському.
28Ha-ran qua đời tại quê hương mình, tức là U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, khi cha người là Tha-rê hãy còn sống.
29І побрали собі Аврам і Нагор жінок. Імя Аврамовій жінцї було Сара; імя ж Нагоровій жінцї було Милка Гаранівна, дочка батька Милки й батька Іски.
29Aùp-ram và Na-cô cưới vợ; vợ Aùp-ram tên là Sa-rai, còn vợ Na-cô tên là Minh-ca; Minh-ca và Dích-ca tức là con gái của Ha-ran.
30Сара ж була неплідна, не мала дїтей.
30Vả, Sa-rai son sẻ, nên người không có con.
31І взяв Тара Аврама да Лота, сина Гаранового, сина свого сина, да невістку свою Сару, сина свого Аврама жінку, та й вивів їх із Ура Халдейського, щоб ійти в землю Канаанську, і прийшли в Гаран та й осїлись там.
31Tha-rê dẫn Aùp-ram, con trai mình, Lót, con trai Ha-ran, cháu mình, và Sa-rai, vợ Aùp-ram, tức dâu mình, đồng ra khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, đặng qua xứ Ca-na-an. Khi đến Cha-ran thì lập gia cư tại đó.
32А віку Тариного було двістї і пять год, і вмер Тара в Гаранї.
32Tha-rê hưởng thọ được hai trăm năm tuổi, rồi qua đời tại Cha-ran.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.