1 Мойсея 32
Kulish and Puluj Bible (1905)Translation
Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1І Яков те ж верстав путь свою, і зустьріли його ангели Божі.
1Gia-cốp cứ đi đường, có thiên sứ Đức Chúa Trời gặp người.
2Каже ж тодї Яков, зуздрівши їх: Се Божий полк, урочище те Маганаїм.
2Khi Gia-cốp thấy các vị nầy, nói rằng: Aáy là trại quân của Đức Chúa Trời! Nên người đặt tên chỗ đó là Ma-ha-na-im.
3Послав же Яков посли поперед собою до Езава, брата свого в Сеїр землю, в Едом поле;
3Gia-cốp sai sứ giả đến trước cùng Ê-sau, anh mình, ở trong xứ Sê-i-rơ thuộc về địa-phận Ê-đôm;
4І наказав їм, говорючи: Такенькі мовляйте панові мойму Езавові: Так говорить раб твій Яков: У Лабана пробував я та й загаявсь там і досї.
4người bèn dặn rằng: Các ngươi hãy thưa cùng Ê-sau, chúa ta như vầy: Gia-cốp, kẻ tôi tớ chúa, có nói như vầy rằng: Tôi đã ngụ tại nhà La-ban đến ngày nay;
5І придбав я воли й осли, і вівцї, і раби, й рабині, і посилаю тепер тобі панові мойму, звістку, щоб запобігти ласки твоєї в очах твоїх.
5có bò, lừa, chiên, tôi trai, tớ gái; vậy, xin sai đi nói cho chúa hay trước, hầu cho nhờ được ơn trước mặt chúa tôi.
6І вернулись посли до Якова, говорючи: Ходили ми до брата твого Езава, і се він сам іде на зустріч тобі, і чотири ста чоловіка з ним.
6Các sứ giả trở về nói cùng Gia-cốp rằng: Chúng tôi đã đi đến Ê-sau, anh của chủ; nầy người đang đem bốn trăm người đến để rước chủ.
7Злякався ж Яков вельми, і був у турботї; і подїлив людей, що були з ним, і вівцї, й воли, й верблюди на два коші.
7Gia-cốp rất sợ hãi và sầu não, bèn chia các dân đi theo, cùng các bầy chiên, bò, lạc đà ra làm hai đội, mà rằng:
8І каже сам собі: Як наступить Езав на один кіш і побє його, тодї другий кіш пійде втеком.
8Nếu Ê-sau đến hãm đánh một trong hai đội, thì đội còn lại sẽ thoát được.
9Каже ж Яков: Боже отця мого Авраама й отця мого Ізаака, Господе, ти що заповідав менї: Вертайсь у рідну землю твою та до родини твоєї, і я таланити му тобі,
9Đoạn, Gia-cốp cầu rằng: Hỡi Đức Chúa Trời của tổ phụ Aùp-ra-ham tôi! Đức Chúa Trời của cha Y-sác tôi, tức là Đức Giê-hô-va! Ngài có phán dạy tôi rằng: Hãy trở về xứ ngươi và nơi bà con ngươi, rồi ta sẽ làm ơn cho ngươi!
10Не заробив я нїже всїх тих благ і всієї вірностї тієї, що виявив єси рабові твойму; з палицею бо сією перебрів я сю Йордань, а тепер виріс у два коші.
10Tôi lấy làm hèn mọn không đáng chịu các ân huệ và các điều thành thực mà Ngài đã làm cho kẻ tôi tớ Ngài; vì lúc trước khi qua sông Giô-đanh chỉ có cây gậy tôi, mà ngày nay tôi lại trở nên hai đội quân nầy.
11Визволь мене, благаю тебе, з рук брата мого, з рук Езава! Боюсь бо, щоб не прийшов та не вбив мене, матері із дїтками.
11Vậy, cầu xin Đức Chúa Trời giải cứu tôi khỏi tay Ê-sau, anh tôi, vì e người đến đánh tôi và đánh luôn mẹ với con nữa.
12Ти ж глаголав єси: Благо тобі сотворю, і вчиню імя твоє яко пісок морський, що не злїчити його задля многостї.
12Vả, Ngài có nói rằng: Quả thật vậy, ta sẽ làm ơn cho ngươi, và làm cho dòng dõi ngươi đông như cát bãi biển, người ta sẽ không biết sao đếm được, vì đông đúc quá.
13І переночував там тієї ночі. І взяв із того, що прийшло йому в руки, гостиньця Езавові, братові свойму.
13Người ở ban đêm tại đó, lấy các vật có hiện trong tay để làm một của lễ dâng cho Ê-sau, anh mình,
14Кіз двістї, а козлів двайцятеро, овечок двістї, а баранів двайцятеро,
14là hai trăm dê cái và hai chục dê đực; hai trăm chiên cái và hai chục chiên đực;
15Берблюдиць дїйних двайцятеро з їх жеребятами, та корів сорок, та бугаїв десятеро, ослиць двайцятеро, і десяток ослів.
15ba chục lạc đà cái có con đang bú, bốn chục bò cái và mười bò đực; hai chục con lừa cái và mười lừa con.
16І приручив їх рабам своїм, усяке стадо окроме, і звелїв рабам своїм: Гонїтесь бридьма через річку, та чинїте прогалину між стадом і стадом.
16Rồi, giao mỗi bầy riêng ra nơi tay đầy tớ mình và dặn rằng: Các ngươi hãy đi trước ta và dẫn bầy nầy cách một khoảng đến bầy kia.
17І звелїв первому, говорючи: Як тебе зустьріне брат мій Езав, та спитає в тебе говорючи: Чий єси, і куди йдеш, і чиє се перед тобою?
17Người dặn tên dẫn bầy đi trước hết như vầy: Khi Ê-sau, anh ta, gặp và hỏi ngươi rằng: Ngươi ở với ai, đi đâu, và bầy súc vật trước mặt ngươi đó thuộc về ai?
18Кажи: Раба твого Якова. Се подарунок панові мойму Езавові. Ось він і сам позад нас.
18thì hãy thưa rằng: Của Gia-cốp, kẻ tôi tớ chúa; ấy là một lễ gởi dâng cho Ê-sau, chúa tôi; và nầy, chính mình người đang theo sau.
19І звелїв другому й третьому, й усїм, що гнались із стадами. Сими словами мовляйте Езавові, як зустьрінете його,
19Gia-cốp cũng dặn y lời cho tên dẫn bầy thứ nhì, thứ ba và hết thảy người theo coi chừng các bầy, và lại nói: Khi gặp Ê-sau, các ngươi hãy nhớ lời đó,
20І кажіть: Ось раб твій Яков і йде за нами. Бо каже сам собі: Вгамую його подарунками, що йдуть поперед мене, а потім побачу лице його. Може прийме мене.
20và nói như vầy: Nầy, Gia-cốp, kẻ tôi tớ chúa, đang theo sau chúng tôi. Vì người thầm nghĩ rằng: Mình đem lễ nầy dâng trước cho Ê-sau nguôi giận đã, rồi mình sẽ giáp mặt sau; có lẽ người tiếp rước mình một cách thuận hiệp đó.
21Так ійшли дарунки поперед його. Сам же переночував ту ніч у коші.
21Vậy, lễ nầy đem đi trước, còn người, đêm đó ở lại trại.
22Уставши ж тієї ночі, узяв обидві жени свої, і обидві рабинї, й одинайцятеро синїв своїх, і перейшов бридьма брід Ябок.
22Ban đêm, người thức dậy, dẫn hai vợ, hai tên đòi và mười một đứa con mình đi qua rạch Gia-bốc.
23І взяв їх, і перебрів річку, і перевів усе, що мав.
23Người đem họ qua rạch, và hết thảy của cải mình qua nữa.
24Остався ж Яков один, і боровсь із ним хтось, аж покіль обутьріло;
24Vả, một mình Gia-cốp ở lại; thì có một người vật lộn với mình đến rạng đông.
25Вбачаючи ж, що не подужа його, ударив його по стегну, по суставу, і потерпів у Якова стегенний сустав, як боровсь із ним.
25Khi người đó thấy mình không thắng nổi, bèn đánh vào xương hông Gia-cốp; xương hông liền trặt trong khi vật lộn.
26І каже той: Пусти мене; бо вже день зоріє. Яков же каже: Не пущу; мусиш благословити мене.
26Người đó bèn nói: Trời đã rạng đông rồi; thôi để cho ta đi; nhưng Gia-cốp đáp rằng: Tôi chẳng cho người đi đâu, nếu người không ban phước cho tôi.
27Рече ж йому: Як на імя тебе? Він же каже: Яков.
27Người đó hỏi: Tên ngươi là chi? Đáp rằng: Tên tôi là Gia-cốp.
28І рече йому: Від тепер буде тобі імя не Яков, а Ізраїль; ти бо з Богом боровсь і над людьми брати меш гору.
28Người lại nói: Tên ngươi sẽ chẳng làm Gia-cốp nữa, nhưng tên là Y-sơ-ra-ên, vì ngươi đã có vật lộn cùng Đức Chúa Trời và người ta; ngươi đều được thắng.
29І поспитав Яков його, і каже: Повідай менї, як на імя тебе звати? Про що питаєш, яке моє імя? І благословив його там.
29Gia-cốp hỏi: Xin cho tôi biết tên người. Đáp rằng: Làm sao ngươi hỏi tên ta? Rồi người nầy ban phước cho Gia-cốp tại đó.
30І приложив Яков тому врочищу прізвище: Пенуель, бачив бо я Бога лицем до лиця, тай вирятувалась душа моя.
30Gia-cốp đặt tên chỗ đó là Phê-ni-ên, và nói rằng: Tôi đã thấy Đức Chúa Trời đối mặt cùng tôi và linh hồn tôi được giải cứu.
31Засяло ж йому соньце, як прийшов за Пенуель; він же кульгав на стегно.
31Khi qua nơi Phê-ni-ên, thấy mặt trời mọc rồi; và người đi giẹo cẳng.
32Тим же то й тепер не їдять сини Ізраїлеві жили, що на составі бедра, тому, що боровшийся зрушив жилу на составі бедра Якова.
32Bởi cớ đó, cho đến ngày nay dân Y-sơ-ra-ên chẳng bao giờ ăn gân bắp vế của lối xương hông; vì người đó có đánh vào xương hông Gia-cốp, nơi gân của bắp vế.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.