Genesis 32
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Jakob loe caehhaih loklam ah caeh poe, to naah Sithaw ih van kaminawk mah anih to tongh o.
1Gia-cốp cứ đi đường, có thiên sứ Đức Chúa Trời gặp người.
2Jakob mah nihcae to hnuk naah, Hae loe Sithaw ih misatuh kaminawk ni, tiah thuih; to pongah to ahmuen to Mahanaim, tiah ahmin sak.
2Khi Gia-cốp thấy các vị nầy, nói rằng: Aáy là trại quân của Đức Chúa Trời! Nên người đặt tên chỗ đó là Ma-ha-na-im.
3Jakob mah Edom prae, Seir hmuen ah, amya Esau khaeah laicaehnawk to hmaloe ah patoeh.
3Gia-cốp sai sứ giả đến trước cùng Ê-sau, anh mình, ở trong xứ Sê-i-rơ thuộc về địa-phận Ê-đôm;
4Anih mah nihcae khaeah, Ka angraeng Esau khaeah, Na tamna Jakob mah, Kai loe Laban khaeah ka caeh moe, vaihi doeh to ah ka oh vop;
4người bèn dặn rằng: Các ngươi hãy thưa cùng Ê-sau, chúa ta như vầy: Gia-cốp, kẻ tôi tớ chúa, có nói như vầy rằng: Tôi đã ngụ tại nhà La-ban đến ngày nay;
5maitawnawk, laa hrangnawk, tuunawk, tamna nongpa hoi nongpatanawk doeh ka tawnh; na mikcuk naakrak ah ka oh hanah, vaihi ka angraeng khaeah lokthuih hanah ang patoeh, tiah a naa o.
5có bò, lừa, chiên, tôi trai, tớ gái; vậy, xin sai đi nói cho chúa hay trước, hầu cho nhờ được ơn trước mặt chúa tôi.
6Laicaehnawk loe Jakob khaeah amlaem o let, anih khaeah, Nam ya Esau khaeah ka caeh o, vaihi nang hnuk hanah kami cumvai palito angzoh haih, tiah a thuih pae o.
6Các sứ giả trở về nói cùng Gia-cốp rằng: Chúng tôi đã đi đến Ê-sau, anh của chủ; nầy người đang đem bốn trăm người đến để rước chủ.
7Jakob loe paroeai zit moe, tasoeh pongah, angmah khae kaom kaminawk, tuunawk, maitawnawk hoi kaengkuu hrangnawk to, abu hnetto ah tapraek.
7Gia-cốp rất sợ hãi và sầu não, bèn chia các dân đi theo, cùng các bầy chiên, bò, lạc đà ra làm hai đội, mà rằng:
8Esau mah abu maeto tuh nahaeloe, kalah abu maeto loih nasoe, tiah a poek pongah to tiah a sak.
8Nếu Ê-sau đến hãm đánh một trong hai đội, thì đội còn lại sẽ thoát được.
9To naah Jakob mah, Aw, kam pa Abraham ih Sithaw, kam pa Issak ih Sithaw, Na prae hoi nangmah acaeng kaminawk khaeah amlaem ah, nang hae kang lensak han, tiah kai khaeah lokthuikung, Angraeng,
9Đoạn, Gia-cốp cầu rằng: Hỡi Đức Chúa Trời của tổ phụ Aùp-ra-ham tôi! Đức Chúa Trời của cha Y-sác tôi, tức là Đức Giê-hô-va! Ngài có phán dạy tôi rằng: Hãy trở về xứ ngươi và nơi bà con ngươi, rồi ta sẽ làm ơn cho ngươi!
10na tamna khaeah nam tuengsak ih na tahmenhaih hoi oepthohhaih tetta mataeng doeh hnuk han kam cuk ai; hae Jordan vapui kang kaat naah, cunghet khue ni ka tawnh; toe vaihi loe abu hnetto ah ka oh boeh.
10Tôi lấy làm hèn mọn không đáng chịu các ân huệ và các điều thành thực mà Ngài đã làm cho kẻ tôi tớ Ngài; vì lúc trước khi qua sông Giô-đanh chỉ có cây gậy tôi, mà ngày nay tôi lại trở nên hai đội quân nầy.
11Kam ya ih ban, kam ya Esau ih ban thung hoi nang pahlong hanah, lawk kang thuih; anih loe kaimah hoi ka zu, ka caanawk hum hanah angzo tih, tiah zithaih ka tawnh.
11Vậy, cầu xin Đức Chúa Trời giải cứu tôi khỏi tay Ê-sau, anh tôi, vì e người đến đánh tôi và đánh luôn mẹ với con nữa.
12Toe nangmah ni kai khaeah, Nang hae kang lensak moe, kroek laek ai ah kaom, tuipui taeng ih savuet zetto, na caanawk kang pungsak han, tiah nang thuih, tiah lawk a thuih.
12Vả, Ngài có nói rằng: Quả thật vậy, ta sẽ làm ơn cho ngươi, và làm cho dòng dõi ngươi đông như cát bãi biển, người ta sẽ không biết sao đếm được, vì đông đúc quá.
13Anih loe aqum puek to ahmuen ah iih; a tawnh ih hmuennawk thung hoiah amya Esau to tangqum paek hanah,
13Người ở ban đêm tại đó, lấy các vật có hiện trong tay để làm một của lễ dâng cho Ê-sau, anh mình,
14maeh amno cumvai hnetto, maeh tae pumphaeto, tuu tala cumvai hnetto, tuu tae pumphaeto,
14là hai trăm dê cái và hai chục dê đực; hai trăm chiên cái và hai chục chiên đực;
15kaengkuu hrang amno qui thumto hoi a caanawk, maitaw tala qui palito hoi maitaw tae hato, laa hrang tala pumphaeto hoi a caa hato a qoih.
15ba chục lạc đà cái có con đang bú, bốn chục bò cái và mười bò đực; hai chục con lừa cái và mười lừa con.
16To moinawk to a tamnanawk ban ah paek moe, abu tapraek pacoengah, Ka hmaa ah caeh oh, abu maeto hoi maeto salak kangthla ah caeh oh, tiah a naa.
16Rồi, giao mỗi bầy riêng ra nơi tay đầy tớ mình và dặn rằng: Các ngươi hãy đi trước ta và dẫn bầy nầy cách một khoảng đến bầy kia.
17Nihcae thungah hmaloe koeh caeh kami khaeah, Kam ya Esau mah nang to hnuk naah, nang loe mi aa? Naa ah maw na caeh han? Na hmaa ih moinawk loe mi ih aa? tiah na dueng nahaeloe,
17Người dặn tên dẫn bầy đi trước hết như vầy: Khi Ê-sau, anh ta, gặp và hỏi ngươi rằng: Ngươi ở với ai, đi đâu, và bầy súc vật trước mặt ngươi đó thuộc về ai?
18to moinawk loe na tamna Jakob ih ni; ka angraeng Esau paek han ih tangqum ni, khenah, anih loe hnukah angzoh, tiah thuih paeh, tiah a naa.
18thì hãy thưa rằng: Của Gia-cốp, kẻ tôi tớ chúa; ấy là một lễ gởi dâng cho Ê-sau, chúa tôi; và nầy, chính mình người đang theo sau.
19To tiah anih hnukah angzo abu hnetto hoi abu thumto kaminawk khaeah doeh, Esau na hnuk o nahaeloe, to tiah thui oh, tiah lok a paek.
19Gia-cốp cũng dặn y lời cho tên dẫn bầy thứ nhì, thứ ba và hết thảy người theo coi chừng các bầy, và lại nói: Khi gặp Ê-sau, các ngươi hãy nhớ lời đó,
20To pacoengah na tamna loe kaicae hnukah angzoh, tiah thui oh, tiah a naa. Hmaloe koek caeh kami mah paek ih tangqumnawk hoiah mikhmai ka sak han; to tiah nahaeloe anih hoi kang qum naah na talawk pae khoe doeh om tih, tiah a poek.
20và nói như vầy: Nầy, Gia-cốp, kẻ tôi tớ chúa, đang theo sau chúng tôi. Vì người thầm nghĩ rằng: Mình đem lễ nầy dâng trước cho Ê-sau nguôi giận đã, rồi mình sẽ giáp mặt sau; có lẽ người tiếp rước mình một cách thuận hiệp đó.
21To pongah Jakob ih tangqumnawk to hmaloe ah caeh o haih; toe to na aqum ah, anih loe kaminawk ataihaih ahmuen ah ni a oh.
21Vậy, lễ nầy đem đi trước, còn người, đêm đó ở lại trại.
22To na aqum ah Jakob loe angthawk moe, a zu hnik, a tamna nongpata hnik hoi a caa hatlaito caeh haih moe, Jabbok vapui ih tui amdaehaih ahmuen ah angkaat haih.
22Ban đêm, người thức dậy, dẫn hai vợ, hai tên đòi và mười một đứa con mình đi qua rạch Gia-bốc.
23Nihcae vapui zaeh ah thak pacoengah, a tawnh ih hmuennawk doeh a thaksak boih.
23Người đem họ qua rạch, và hết thảy của cải mình qua nữa.
24To pongah Jakob loe angmabueng oh sut; to naah anih loe kami maeto hoiah khodai ai karoek to angpanh.
24Vả, một mình Gia-cốp ở lại; thì có một người vật lộn với mình đến rạng đông.
25To kami mah anih to pazawk mak ai, tiah panoek naah, Jakob ih phaih to boh pae tuek; to tiah angpan hoi li naah Jakob ih phaih huh amkhraeng pae ving.
25Khi người đó thấy mình không thắng nổi, bèn đánh vào xương hông Gia-cốp; xương hông liền trặt trong khi vật lộn.
26To kami mah, Na prawt lai ah, khodai tom boeh, tiah a naa. Toe Jakob mah, Tahamhoihaih nang paek ai nahaeloe, kang prawt mak ai, tiah a naa.
26Người đó bèn nói: Trời đã rạng đông rồi; thôi để cho ta đi; nhưng Gia-cốp đáp rằng: Tôi chẳng cho người đi đâu, nếu người không ban phước cho tôi.
27To kami mah, Na hmin loe mi aa? tiah a naa. Anih mah, Jakob, tiah a naa.
27Người đó hỏi: Tên ngươi là chi? Đáp rằng: Tên tôi là Gia-cốp.
28To naah to kami mah, Nang loe Sithaw hoi anih ih kaminawk hoiah nang panh moe, na pazawk boeh pongah, na hmin to Jakob, tiah kawk mak ai boeh; Israel, tiah ni kawk tih boeh, tiah a naa.
28Người lại nói: Tên ngươi sẽ chẳng làm Gia-cốp nữa, nhưng tên là Y-sơ-ra-ên, vì ngươi đã có vật lộn cùng Đức Chúa Trời và người ta; ngươi đều được thắng.
29Jakob mah, Na hmin loe mi aa? Tahmenhaih hoiah na thui ah, tiah a naa. Toe anih mah, Tih hanah ka hmin nang dueng loe? tiah a naa. To pacoengah anih mah to ahmuen ah Jakob hanah tahamhoihaih paek.
29Gia-cốp hỏi: Xin cho tôi biết tên người. Đáp rằng: Làm sao ngươi hỏi tên ta? Rồi người nầy ban phước cho Gia-cốp tại đó.
30Jakob mah mikhmai kangtong ah Sithaw to ka hnuk boeh, toe anih mah ka hinghaih ang pathlung, tiah a poek pongah, to ahmuen to Jakob mah Peniel, tiah ahmin sak.
30Gia-cốp đặt tên chỗ đó là Phê-ni-ên, và nói rằng: Tôi đã thấy Đức Chúa Trời đối mặt cùng tôi và linh hồn tôi được giải cứu.
31Penuel to poeng pacoeng loe khodai boeh; to naah Jakob loe khok kangbai baktiah lam caeh.
31Khi qua nơi Phê-ni-ên, thấy mặt trời mọc rồi; và người đi giẹo cẳng.
32Anih mah Jakob ih phaih thaqui to atumh pae tuek pongah, vaihni ni khoek to Israel caanawk mah phaih thaqui taeng ih angan to caa o ai.
32Bởi cớ đó, cho đến ngày nay dân Y-sơ-ra-ên chẳng bao giờ ăn gân bắp vế của lối xương hông; vì người đó có đánh vào xương hông Gia-cốp, nơi gân của bắp vế.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.