Genesis
Chapter 11
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To naah long pum ah lok maeto khue oh moe, lok maeto ni apaeh o.
1Vả, cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng.
2Ni angyae bang hoiah a caeh o, Shinar azawn to hnuk o naah, to ah khosak o.
2Nhưng khi ở Đông phương dời đi, người ta gặp một đồng bằng trong xứ Si-nê-a, rồi ở tại đó.
3To naah nihcae mah maeto hoi maeto khaeah, Angzo oh, amlai long pahlom o si loe, hmaiqoeng o si, tiah thuih o. Thlung zuengah amlai long to patoh o moe, param long zuengah thing tangpri to patoh o.
3Người nầy nói với người kia rằng: Hè! chúng ta hãy làm gạch và hầm trong lửa. Lúc đó, gạch thế cho đá, còn chai thế cho hồ.
4Nihcae mah, Angzo oh, vangpui maeto sah o si loe, van pha khoek to imsang to sah o si; aimacae ahmin amthang hanah sah o si, to tih ai nahaeloe long pum ah ampraek o boih moeng tih, tiah a thuih o.
4Lại nói rằng: Nào! chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời; ta hãy lo làm cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất.
5Angraeng loe kaminawk mah sak ih imsang hoi vangpui to khet hanah, angzoh tathuk.
5Đức Giê-hô-va bèn ngự xuống đặng xem cái thành và tháp của con cái loài người xây nên.
6Angraeng mah, Khenah, kaminawk loe maeto ah oh o moe, lok maeto apaeh o boih pongah, hae tok hae sak amtong o boeh; vaihi sak han a poek o ih hmuen hae pakaahaih tidoeh om ai ah sah o tih.
6Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ tiếng; và kia kìa công việc chúng nó đang khởi làm; bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được.
7Angzo oh, caeh o tathuk si loe, maeto hoi maeto lok angthaih han ai ah, lok anghmangsak si, tiah thuih o.
7Thôi! chúng ta, hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia.
8To pongah Angraeng mah nihcae to long pum ah ampraeksak; to naah vangpui to sah ai ah toengh o sut.
8Rồi, từ đó Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành.
9Angraeng mah long pum ah kaom kaminawk to lok anghmangsak, to ahmuen hoiah nihcae to long pum ah ampraeksak phang, to pongah vangpui to Babel, tiah kawk o.
9Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.
10Shem ih caanawk kawng loe hae tiah oh; Shem loe saning cumvaito oh moe, tui uemhaih phak pacoeng, saning hnetto naah, Arphazad to sak;
10Đây là dòng dõi của Sem: Cách hai năm, sau cơn nước lụt, Sem được một trăm tuổi, sanh A-bác-sát.
11Arphazad to a sak pacoengah, Shem loe saning cumvai pangato hing moe, kalah capa hoi canunawk doeh sak vop.
11Sau khi Sem sanh A-bác-sát rồi, còn sống được năm trăm năm, sanh con trai con gái.
12Arphazad loe saning qui thum, pangato naah Salah to sak.
12A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sanh Sê-lách.
13Arphazad loe Salah sak pacoengah, saning cumvai pali, thumto hing moe, kalah capa hoi canunawk doeh sak vop.
13Sau khi A-bác-sát sanh Sê-lách rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con gái.
14Salah loe saning qui thumto naah, Eber to sak.
14Sê-lách được ba mươi tuổi, sanh Hê-be.
15Salah loe Eber sak pacoengah saning cumvai pali, thumto hing moe, kalah capa hoi canunawk doeh sak vop.
15Sau khi Sê-lách sanh Hê-be rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con gái.
16Eber loe saning qui thum, palito naah Peleg to sak.
16Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sanh Bê-léc.
17Eber loe Peleg sak pacoengah, saning cumvai pali, qui thumto hing moe, kalah capa hoi canunawk doeh sak vop.
17Sau khi Hê-be sanh Bê-léc rồi, còn sống được bốn trăm ba mươi năm, sanh con trai con gái.
18Peleg loe saning qui thumto naah Reu to sak.
18Bê-léc được ba mươi tuổi, sanh Rê-hu
19Peleg loe Reu sak pacoengah, saning cumvai hnet, takawtto hing moe, kalah capa hoi canunawk doeh sak vop.
19Sau khi Bê-léc sanh Rê-hu rồi, còn sống được hai trăm chín năm, sanh con trai con gái.
20Reu loe saning qui thum, hnetto naah Serug to sak.
20Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sanh Sê-rúc.
21Reu loe Serug sak pacoengah, saning cumvai hnet, sarihto hing moe, kalah capa hoi canunawk doeh sak vop.
21Sau khi Rê-hu sanh Sê-rúc rồi, còn sống được hai trăm bảy năm, sanh con trai con gái.
22Serug loe saning qui thumto naah Nahor to sak.
22Sê-rúc được ba mươi tuổi, sanh Na-cô.
23Serug loe Nahor sak pacoengah, saning cumvai hnetto hing moe, kalah capa hoi canunawk doeh sak vop.
23Sau khi Sê-rúc sanh Na-cô rồi, còn sống được hai trăm năm, sanh con trai con gái.
24Nahor loe saning pumphae takawtto naah, Terah to sak.
24Na-cô được hai mươi chín tuổi, sanh Tha-rê.
25Nahor loe Terah sak pacoengah, saning cumvai, hatlai takawtto hing moe, capa hoi canunawk sak vop.
25Sau khi Na-cô sanh Tha-rê rồi, còn sống được một trăm mười chín năm, sanh con trai con gái.
26Terah loe saning cumvai sarihto naah, Abram, Nahor hoi Haran to sak.
26Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sanh Aùp-ram, Na-cô và Ha-ran.
27Terah ih caanawk kawng loe hae tiah oh; Terah mah Abram, Nahor hoi Haran to sak; Haran mah Lot to sak.
27Đây là dòng dõi của Tha-rê: Tha-rê sanh Aùp-ram, Na-cô và Ha-ran; Ha-ran sanh Lót.
28Haran loe ampa Terah dueh ai naah, a tapenhaih Khaldia prae Ur vangpui ah duek.
28Ha-ran qua đời tại quê hương mình, tức là U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, khi cha người là Tha-rê hãy còn sống.
29Abram hoi Nahor loe zu lak hoi hmaek; Abram ih zu loe Sarai; Nahor ih zu loe Milkah; Haran mah canu, Milkah hoi Ishkah to sak.
29Aùp-ram và Na-cô cưới vợ; vợ Aùp-ram tên là Sa-rai, còn vợ Na-cô tên là Minh-ca; Minh-ca và Dích-ca tức là con gái của Ha-ran.
30Sarai loe caa kaak; to pongah caa sah ai.
30Vả, Sa-rai son sẻ, nên người không có con.
31Terah mah a capa Abram, Haran ih capa Lot, a capa Abram ih zu, a langah Sarai to kawk moe, Khadia prae Ur vangpui hoiah Kanaan prae ah caeh haih; Haran vangpui phak o naah, to ah khosak o.
31Tha-rê dẫn Aùp-ram, con trai mình, Lót, con trai Ha-ran, cháu mình, và Sa-rai, vợ Aùp-ram, tức dâu mình, đồng ra khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, đặng qua xứ Ca-na-an. Khi đến Cha-ran thì lập gia cư tại đó.
32Terah loe saning cumvai hnet, pangato hing moe, Haran vangpui ah duek.
32Tha-rê hưởng thọ được hai trăm năm tuổi, rồi qua đời tại Cha-ran.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.