Genesis 9
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Sithaw mah Noah hoi a caanawk to tahamhoihaih paek, nihcae khaeah, athaih athai oh, pung oh loe, long ah koi oh, tiah a naa.
1Đức Chúa Trời ban phước cho Nô-ê cùng các con trai người, mà phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy trên mặt đất.
2Long nui ih moi boih, van ih tavaa boih, kavak angtawt thaih long nui ih moi boih, tuipui nui ih tanganawk boih mah, nangcae to zii o ueloe, tasoeh o tih; to moinawk to nangcae ban ah kang paek boih boeh.
2Các loài vật ở trên đất, các loài chim trời, và các vật hành động trên đất, cùng các cá biển, đều sẽ kinh khủng ngươi và bị phú vào tay ngươi.
3Kangtawt moe, hinghaih tawn angtawt thaih hmuen boih to nang hanah buh ah om tih; kahing aannawk hoi hmuen boih nangcae hanah kang paek boeh.
3Phàm vật chi hành động và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như ta đã cho thứ cỏ xanh.
4Toe hinghaih tawn moi ih athii to caa o hmah.
4Song các ngươi không nên ăn thịt còn hồn sống, nghĩa là có máu.
5Na hing o haih, nangcae ih athii to ka suk han; kami hoi moinawk to lok ka caek boih han; kami boih mah angmacae nawkamya ih athii to palong o pongah lok ka caek han.
5Quả thật, ta sẽ đòi máu của sự sống ngươi lại, hoặc nơi các loài thú vật, hoặc nơi tay người, hoặc nơi tay của anh em người.
6Sithaw angmah ih krang hoi kanghmong ah kami to sak pongah, kami ih athii palong kami loe, anih doeh kami mah athii longsak toeng tih.
6Hễ kẻ nào làm đổ máu người, thì sẽ bị người khác làm đổ máu lại; vì Đức Chúa Trời làm nên người như hình của Ngài.
7Toe nang loe, thingthai athai ah loe, pung ah; long ah caa sah o mang ah loe, pung oh, tiah a naa.
7Vậy, các ngươi hãy sanh sản, thêm nhiều, và làm cho đầy dẫy trên mặt đất.
8To pacoengah Sithaw mah Noah hoi a caanawk khaeah,
8Đức Chúa Trời cũng phán cùng Nô-ê và các con trai người rằng:
9Khenah, nang hoi lokmaihaih to ka sak moe, nang pacoeng kaom na caanawk,
9Còn phần ta đây, ta lập giao ước cùng các ngươi, cùng dòng dõi các ngươi,
10nang hoi nawnto kaom hinghaih tawn moinawk, tavaanawk, pacah ih moinawk, long ih moisannawk boih, palong thung hoi tacawt moinawk boih, long ih moinawk boih hoiah doeh, lokmaihaih to ka sak.
10và cùng mọi vật sống ở với ngươi, nào loài chim, nào súc vật, nào loài thú ở trên đất, tức là các loài ở trong tàu ra, cho đến các loài vật ở trên đất.
11Nang hoi ka sak ih lokmaihaih to ka caksak han; hinghaih tawn moinawk boih loe natuek naah doeh tui uemhaih hoiah kam rosak mak ai boeh; long amrosak hanah natuek naah doeh tui uemhaih thok mak ai boeh.
11Vậy, ta lập giao ước cùng các ngươi, và các loài xác thịt chẳng bao giờ lại bị nước lụt hủy diệt, và cũng chẳng có nước lụt để hủy hoại đất nữa.
12Sithaw mah, Hae loe nang hoi kai salak, nang hoi nawnto kaom moinawk boih salakah dungzan khoek to ka sak ih lokmaih angmathaih ah om tih.
12Đức Chúa Trời lại phán rằng: Đây là dấu chỉ về sự giao ước mà ta lập cùng các ngươi, cùng hết thảy vật sống ở với các ngươi, trải qua các đời mãi mãi.
13Tamai thungah khungzae to ka suek, to loe kai hoi long salakah lokmaih angmathaih ah om tih.
13Ta đặt mống của ta trên từng mây, dùng làm dấu chỉ sự giao ước của ta với đất.
14Long ah tamai to ka taboksak naah, tamai nuiah khungzae to amtueng tih;
14Phàm lúc nào ta góp các đám mây trên mặt đất và phàm mống mọc trên từng mây,
15moinawk amrosak boih hanah tui uemhaih om let mak ai boeh, tiah aihnik salak hoi hinghaih tawn moinawk boih salakah ka sak ih, lokmaihaih to ka pahnet mak ai.
15thì ta sẽ nhớ lại sự giao ước của ta đã lập cùng các ngươi, và cùng các loài xác thịt có sự sống, thì nước chẳng bao giờ lại trở nên lụt mà hủy diệt các loài xác thịt nữa.
16Tamai thungah khungzae kamzam ka hnuk nathung, long nui ih hinghaih tawn moinawk boih hoi Sithaw salakah sak ih dungzan lokmaihaih to ka poek poe han, tiah thuih.
16Vậy, cái mống sẽ ở trên mây, ta nhìn xem nó đặng nhớ lại sự giao ước đời đời của Đức Chúa Trời cùng các loài xác thịt có sự sống ở trên đất.
17Sithaw mah Noah khaeah, Hae loe kai hoi long nuiah kaom hinghaih tawn moinawk boih salakah ka sak ih, lokmaihaih ah oh, tiah a naa.
17Đức Chúa Trời lại phán cùng Nô-ê rằng: Đó là dấu chỉ sự giao ước mà ta đã lập giữa ta và các xác thịt ở trên mặt đất.
18Palong thung hoi tacawt Noah ih capa thumtonawk loe, Shem, Ham hoi Japheth; Ham loe Kanan ih ampa ah oh.
18Các con trai của Nô-ê ở trong tàu ra là Sem, Cham và Gia-phết. Vả, Cham là cha của Ca-na-an.
19Nichae loe Noah ih caa ah oh o moe, nihcae thung hoiah ni long boih ah kaminawk to pung o.
19Aáy đó, là ba con trai của Nô-ê, và cũng do nơi họ mà có loài người ở khắp trên mặt đất.
20Noah loe lawk phrawk kami ah oh pongah, misur takha to sak;
20Vả, Nô-ê khởi cày đất và trồng nho.
21anih loe misurtui to naek moe, misurtui paquih pongah, angmah ih kahni imthung ah bangkrai ah angsong sut.
21Người uống rượu say, rồi lõa thể ở giữa trại mình.
22Kanaan ampa Ham loe bangkrai ah kaom ampa to hnuk naah, tasa bangah kaom amya hnik khaeah a thuih pae.
22Cham là cha Ca-na-an, thấy sự trần truồng của cha, thì ra ngoài thuật lại cùng hai anh em mình.
23Toe Shem hoi Japheth mah loe kahni to lak hoi moe, palaeng ah a thuengh hoi tahang pacoengah, hnukbang angqoi hoi moe, bangkrai ah kaom ampa to a khuk hoi; hnukbang angqoi hoi pongah bangkrai ah kaom ampa to hnu hoi ai.
23Nhưng Sem và Gia-phết đều lấy áo choàng vắt trên vai mình, đi thùi lui đến đắp khuất thân cho cha; và bởi họ xây mặt qua phía khác, nên chẳng thấy sự trần truồng của cha chút nào.
24Noah misurtui paquihaih cai naah loe, a capa kanawk mah a nuiah sak ih hmuen to panoek.
24Khi Nô-ê tỉnh rượu rồi, hay được điều con thứ hai đã làm cho mình,
25To naah Kanaan loe tangoenghaih to zok nasoe loe, amya hnik ih tamna ah om nasoe, tiah a naa.
25bèn nói rằng: Ca-na-an đáng rủa sả! Nó sẽ làm mọi cho các tôi tớ của anh em nó.
26To pacoengah anih mah, Shem ih Angraeng Sithaw loe tahamhoihaih om nasoe loe, Kanaan loe Shem ih tamna ah om nasoe.
26Người lại nói rằng: Đáng ngợi khen Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Sem thay; Ca-na-an phải làm tôi cho họ!
27Sithaw mah Japheth ih prae to kawksak nasoe loe, Japheth loe Shem ih kahni im ah om nasoe; Kanaan loe anih ih tamna ah om nasoe, tiah a naa.
27Cầu xin Đức Chúa Trời mở rộng đất cho Gia-phết, cho người ở nơi trại của Sem; còn Ca-na-an phải làm tôi của họ.
28Noah loe tui uemhaih phak pacoengah, saning cumvai thum, qui pangato hing vop.
28Sau khi lụt, Nô-ê còn sống ba trăm năm mươi năm.
29Noah loe saning cumvai takawt, qui pangato hing pacoengah duek.
29Vậy, Nô-ê hưởng thọ được chín trăm năm mươi tuổi, rồi qua đời.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.