Genesis 46
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To pongah Israel loe a tawnh ih hmuennawk boih hoiah caeh moe, Beersheba phak naah, ampa Issak ih Sithaw khaeah angbawnhaih to sak.
1Y-sơ-ra-ên ra đi, đem theo các tài vật mình. Đến Bê-e-Sê-ba, người bày của lễ dâng cho Đức Chúa Trời của Y-sác, cha mình.
2Sithaw mah Jakob khaeah aqum ah hnuksakhaih hoi lok to thuih pae, Jakob! Jakob! tiah a naa. Anih mah, Haeah ka oh, tiah pathim.
2Trong một sự hiện thấy ban đêm kia, Đức Chúa Trời có phán cùng Y-sơ-ra-ên rằng: Hỡi Gia-cốp, Gia-cốp! Y-sơ-ra-ên đáp rằng: Có tôi đây.
3Anih mah, Kai loe Sithaw, nam pa ih Sithaw ah ka oh; Izip prae ah caeh tathuk hanah zii hmah; to ah kalen parai acaeng ah kang sak han.
3Đức Chúa Trời phán: Ta là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời của cha ngươi. Hãy xuống Ê-díp-tô, đừng sợ chi, vì tại đó ta sẽ làm cho ngươi thành một nước lớn.
4Izip prae ah kang caeh haih moe, kam laem haih let han, Joseph mah na mik nuiah a ban to koeng tih, tiah a naa.
4Chính ta sẽ xuống đến đó với ngươi, và chính ta cũng sẽ dẫn ngươi về chẳng sai. Giô-sép sẽ vuốt mắt ngươi nhắm lại.
5To pacoengah Jakob loe kholong caeh hanah Beersheba hoiah amsak, Israel ih caanawk mah ampa Jakob, anih ih caanawk hoi a zunawk to Faro mah nihcae phawh hanah patoeh ih hrang leeng nuiah angthueng o sak.
5Từ Bê-e-Sê-ba, Gia-cốp khởi đi; các con trai Y-sơ-ra-ên để Gia-cốp, cha mình, cùng các vợ và con mình lên xe cộ của Pha-ra-ôn đã sai đến rước những người đó.
6To pacoengah Jakop mah Kanaan prae ah hnuk o ih hmuennawk hoi maitawnawk to sinh moe, a caanawk hoi nawnto Izip prae ah caeh tathuk.
6Chúng cũng đem theo các súc vật và của cải mình đã gây dựng tại xứ Ca-na-an, mà đi đến xứ Ê-díp-tô.
7Jakob loe angmah hoi a caanawk doeh Izip prae ah caeh haih boih.
7Vậy, Gia-cốp cùng cả nhà người, nào các con trai, nào các cháu trai, nào các con gái, nào các cháu gái, thảy đều xuống xứ Ê-díp-tô.
8Hae kaminawk loe Izip prae ah kacaeh Israel ih caanawk, Jakob caanawk ih ahmin ah oh; Reuben loe Jakob ih calu ah oh.
8Đây là tên các con trai của Y-sơ-ra-ên, tức là Gia-cốp, đến xứ Ê-díp-tô: Con trưởng nam của Gia-cốp là Ru-bên.
9Reuben ih caanawk loe Hanok, Phallu, Hezron hoi Karmi.
9Các con trai của Ru-bên là Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn, và Cạt-mi.
10Simeon ih caanawk loe Jemuel, Jamin, Ohad, Jachin, Zohar hoi Kanaan nongpata ih capa Shaul.
10Các con trai của Si-mê-ôn là Giê-mu-ên, Gia-min, Ô-hát, Gia-kin, Xô-ha, và Sau-lơ, tức con của người vợ xứ Ca-na-an.
11Levi ih caanawk loe Gershon, Kohath hoi Merari.
11Các con trai của Lê-vi là Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri.
12Judah ih caanawk loe Er, Onan, Shelah, Pharez hoi Zerah; toe Er hoi Onan loe Kanaan prae ah duek hoi boeh. Perez ih caanawk loe, Hezron hoi Hamul.
12Các con trai của Giu-đa là Ê-rơ, O-nan, Sê-la, Phê-rết và Sê-rách. Nhưng Ê-rơ và O-nan đã thác tại xứ Ca-na-an; con của Phê-rết là Hết-rôn, và Ha-mun.
13Issakar ih caanawk loe Tola, Puvah, Job hoi Shimron.
13Các con trai của Y-sa-ca là Thô-la, Phu-va, Gióp và Sim-rôn.
14Zebulun ih caanawk loe Sered, Elon hoi Jahleel.
14Các con trai của Sa-bu-lôn là Sê-rết, Ê-lôn, và Gia-lê-ên.
15Hae kaminawk loe Padan Aram ah, Leah mah Jakob hanah, canu Dinah hoi nawnto sak ih caa ah oh o; a capa hoi a canunawk loe sangqum boih ah qui thum, thumto oh o.
15Vả, các con trai, và một con gái tên là Đi-na, mà Lê-a sanh cho Gia-cốp khi ở tại Pha-đan-A-ram, cùng các cháu đó, hết thảy là ba mươi ba người.
16Gad ih caanawk loe Zephion, Haggi, Shuni, Ezbon, Eri, Arodi hoi Areli.
16Các con trai của Gát là Xi-phi-ôn, Ha-ghi, Su-ni, Eùt-bôn, Ê-ri, A-rô-đi và A-rê-li.
17Asher ih caanawk loe Jimnah, Ishuah, Isui hoi Beriah; nihcae ih tanuh loe Serah; Beriah ih caanawk loe Heber hoi Malkiel.
17Các con trai của A-se là Dim-na, Dích-và, Dích-vi, và Bê-ri-a, cùng Sê-rách, em gái các người đó. Con của Bê-ri-a là Hê-be, và Manh-ki-ên.
18Hae kaminawk loe Laban mah a canu Leah khaeah paek ih, Zilpah mah Jakob hanah sak pae ih caa ah oh o; kami hatlai tarukto oh o.
18Vả, các con trai của nàng Xinh-ba sanh cho Gia-cốp, cùng các cháu đó, hết thảy là mười sáu người. Nàng là con đòi của La-ban đã cho theo hầu Lê-a, con gái mình.
19Joseph hoi Benjamin loe Jakob ih zu Rachel ih caa ah oh,
19Các con trai của Ra-chên, vợ Gia-cốp, là Giô-sép, và Bên-gia-min.
20Izip prae, On vangpui ah kaom qaima Photipherah canu, Asenath mah Joseph han sak pae ih caanawk loe Manasseh hoi Ephraim.
20Giô-sép đã có con tại xứ Ê-díp-tô, là Ma-na-se, và Eùp-ra-im, mà Aùch-nát, con gái của Phô-ti-phê-ra, thầy cả thành Oân, đã sanh cho người.
21Benjamin ih caanawk loe Bela, Beker, Ashbel, Gera, Naaman, Ehi, Rosh, Muppim, Huppim hoi Ard.
21Các con trai của Bên-gia-min là Bê-la, Bê-kê, Aùch-bên, Giê-ra, Na-a-man, Ê-hi, Rô-sơ, Mốp-bim, Hốp-bim, và A-rết.
22Hae kaminawk loe Rachel mah, Jakob hanah sak pae ih kami ah oh o moe, sangqum boih ah hatlai palito oh o.
22Vả, các con trai của Ra-chên sanh cho Gia-cốp, cùng các cháu đó, hết thảy là mười bốn người.
23Dan ih caanawk loe Hushim.
23Con trai của Đan là Hu-sim.
24Naphtali ih caanawk loe, Jahzeel, Guni, Jezer hoi Shillem.
24Các con trai của Nép-ta-li là Giát-sê-ên, Gu-ni, Dít-se, và Si-lem.
25Hae kaminawk loe Laban mah a canu Rachel khaeah paek ih, Bilah mah Jakob han sak pae ih caa ah oh o moe, sangqum boih ah sarihto oh o.
25Vả, các con trai của nàng Bi-la sanh cho Gia-cốp, cùng các cháu đó, hết thảy là bảy người. Nàng là con đòi của La-ban đã cho theo hầu Ra-chên, con gái mình.
26Jakob hoi nawnto Izip prae ah angzo kaminawk boih, a capa ih zunawk to kroek ai ah, angmah ih caanawk boih loe qui taruk, tarukto oh o.
26Các người đi đến xứ Ê-díp-tô với Gia-cốp, tức là các người do nơi Gia-cốp sanh, nếu không kể các nàng dâu, thì hết thảy là sáu mươi sáu người.
27Joseph mah Izip prae thungah sak ih capa hnetto hoi Izip prae ah angzo, Jakob ih canawknawk boih loe, sangqum boih ah qui sarihto oh o.
27Con của Giô-sép đã sanh tại Ê-díp-tô được hai. Vậy, các người thuộc về nhà Gia-cốp đi đến Ê-díp-tô, cọng hết thảy là bảy mươi người.
28Goshen prae caehhaih loklam duengh hanah Jakob mah Judah to Joseph khaeah patoeh hmaloe, to tiah Goshen prae to a phak o.
28Gia-cốp sai Giu-đa đi đến trước đặng xin Giô-sép đưa mình vào bờ cõi Gô-sen. Vậy, họ đều vào xứ Gô-sen.
29Joseph loe hrang leeng to suek coek moe, ampa Israel to hnuk hanah Goshen prae ah caeh; Goshen prae ah ampa khaeah phak naah, ampa to takop moe, a qah.
29Giô-sép thắng xe đi lên Gô-sen, đón Y-sơ-ra-ên, cha mình. Người ra mắt cha, ôm choàng lấy người và khóc một hồi lâu.
30Israel mah Joseph khaeah, Na hing vop pongah, na krang ka hnuk boeh; vaihi loe ka duek cadoeh palung mong boeh, tiah a naa.
30Y-sơ-ra-ên nói cùng Giô-sép rằng: Chớ chi cho cha chết bây giờ đi! vì cha đã thấy được mặt con, và biết con vẫn còn sống.
31To pacoengah Joseph mah amyanawk hoi ampa imthung takohnawk khaeah, Faro khaeah ka caeh tahang moe, Kanaan prae ah kaom kam yanawk hoi kam pa imthung takohnawk angzoh o boeh;
31Đoạn Giô-sép nói cùng anh em và người nhà cha mình rằng: Tôi sẽ lên trước tâu cho Pha-ra-ôn hay rằng: Anh em và cả nhà cha tôi, ở xứ Ca-na-an đã đến cùng tôi.
32nihcae loe tuu toep kami, maitaw khenzawn kami ah oh o; nihcae loe a tawnh o ih hmuen boih, maitawnawk, tuunawk to sin o, tiah ka thuih pae han.
32Họ vốn làm nghề chăn chiên, nuôi bầy súc vật; có dẫn theo hết bầy chiên, bò và các tài vật của mình.
33Faro mah kawk moe, tih tok maw na sak o? tiah na dueng nahaeloe,
33Và khi Pha-ra-ôn truyền gọi anh em mà hỏi rằng: Các ngươi làm nghề chi?
34nangcae mah, Na tamnanawk loe nawkta nathuem hoi kamtong vaihni ni khoek to, kam pa mah sak ih baktih toengah, maitawnawk ni ka toep o, tiah thui oh; to tiah nahaeloe nangcae to Goshen prae ah na omsak tih; tuutoep kami loe Izip kaminawk mah panuet o, tiah a naa.
34Thì hãy tâu rằng: Kẻ tôi tớ chúa cùng tổ phụ chúng tôi vẫn làm nghề nuôi súc vật từ thuở còn nhỏ cho đến giờ. Aáy hầu cho anh em đặng ở lại xứ Gô-sen, vì dân Ê-díp-tô có tánh gớm ghê hết thảy kẻ chăn chiên lắm.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.