Genesis
Chapter 2
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To tiah van hoi long, to ah kaom hmuennawk boih to a sak pacoeng.
1Aáy vậy, trời đất và muôn vật đã dựng nên xong rồi.
2Ni sarihto naah loe Sithaw mah a sak ih tok to pacoengh, to pongah ni sarihto naah loe a toksakhaih boih thung hoiah anghak.
2Ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời làm xong các công việc Ngài đã làm, và ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm.
3A sak ih tok boih thung hoiah Sithaw anghakhaih niah oh pongah, sarihto ni to Sithaw mah tahamhoihaih paek moe, ciimcaisak.
3Rồi, Ngài ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó, Ngài nghỉ các công việc đã dựng nên và đã làm xong rồi.
4Angraeng Sithaw mah van hoi long sak na niah, van hoi long sakhaih kawngnawk loe hae tiah oh.
4Aáy là gốc tích trời và đất khi đã dựng nên, trong lúc Giê-hô-va Đức Chúa Trời dựng nên trời và đất.
5Angraeng Sithaw mah long nuiah kho angzosak ai pongah, long ah thingkung to om ai, aan doeh amprawk ai; long ah toksah kami doeh om ai.
5Vả, lúc đó, chưa có một cây nhỏ nào mọc ngoài đồng, và cũng chưa có một ngọn cỏ nào mọc ngoài ruộng, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chưa có cho mưa xuống trên đất, và cũng chẳng có một người nào cày cấy đất nữa.
6Toe long thung hoiah tui to tacawt pongah, long to tui mah duksak boih.
6Song có hơi nước dưới đất bay lên tưới khắp cùng mặt đất,
7Angraeng Sithaw mah long ih maiphu hoiah kami to sak moe, anih ih hnahkhaw thungah hinghaih takhi to uengh pae; to naah hinghaih tawn kami ah angcoeng.
7Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.
8Angraeng Sithaw mah ni angyae bang ih Eden ah takha maeto sak; to ah a sak ih kami to a suek.
8Đoạn, Giê-hô-va Đức Chúa Trời lập một cảnh vườn tại Ê-đen, ở về hướng Đông, và đặt người mà Ngài vừa dựng nên ở đó.
9Angraeng Sithaw mah to long thung hoiah khet kahoih, caak kahoih thingkung congca to amprawksak; hinghaih thingkung hoi kasae kahoih panoekhaih thingkung doeh takha um ah oh.
9Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt, và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác.
10Takha tui paek hanah Eden takha thung hoiah vapui maeto longh; to ahmuen hoiah ampraek moe, vapui sip palito ah angphae.
10Một con sông từ Ê-đen chảy ra đặng tưới vườn; rồi từ đó chia ra làm bốn ngả.
11Hmaloe koek ih ahmin loe Pishon; to vapui loe sui ohhaih, Havilah prae thung boih ah longh.
11Tên ngả thứ nhất là Bi-sôn; ngả đó chảy quanh xứ Ha-vi-la, là nơi có vàng.
12To prae thung ih sui loe hoih; to ah loe bdellium hmuihoih thing hoi onyx thlungnawk doeh tacawt.
12Vàng xứ nầy rất cao; đó lại có nhũ hương và bích ngọc.
13Hnetto haih vapui ahmin loe Gihon; to vapui loe Ethiopia prae thung boih ah longh.
13Tên sông thứ nhì là Ghi-hôn, chảy quanh xứ Cu-sơ.
14Thumto haih vapui ahmin loe Hiddekel; to loe Assyria prae ni angyae bangah longh. Palito haih vapui loe Euphrates.
14Tên sông thứ ba là Hi-đê-ke, chảy về phía đông bờ cõi A-si-ri. Còn sông thứ tư là sông Ơ-phơ-rát.
15Eden takha to khetzawn moe, to ah toksak hanah, Angraeng mah kami to lak moe, takha thungah anih to suek.
15Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn.
16Angraeng Sithaw mah kami khaeah, Takha thungah kaom thingkung hoi tacawt athaihnawk boih to na caak thaih;
16Rồi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn;
17toe kasae kahoih panoekhaih thingthai loe na caa mak ai; na caak niah na dueh tangtang tih, tiah lokpaek.
17nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết.
18Angraeng Sithaw mah, Kami loe angmabueng oh han hoih ai; anih han kamcuk bomkung maeto ka sak pae han, tiah thuih.
18Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán rằng: Loài người ở một mình thì không tốt; ta sẽ làm nên một kẻ giúp đỡ giống như nó.
19Angraeng Sithaw mah long hoiah sak ih taw ih moinawk boih, van ih tavaanawk boih to khetzawn moe, ahmin phui hanah, Adam khaeah sinh pae; kahing moi loe, Adam mah sak ih ahmin baktih toengah ahmin tawnh o boih.
19Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy đất nắn nên các loài thú đồng, các loài chim trời, rồi dẫn đến trước mặt A-đam đặng thử xem người đặt tên chúng nó làm sao, hầu cho tên nào A-đam đặt cho mỗi vật sống, đều thành tên riêng cho nó.
20Adam mah moinawk, van ih tavaanawk hoi taw ih moinawk boih to ahmin sak; toe Adam loe angmah hoi kamcuk bomkung to tawn ai.
20A-đam đặt tên các loài súc vật, các loài chim trời cùng các loài thú đồng; nhưng về phần A-đam, thì chẳng tìm được một ai giúp đỡ giống như mình hết.
21Angraeng Sithaw mah Adam to iih angmuetsak parai pongah, anih loe iih; anih ih panak huh maeto a lak pae, a lak ih ahmuen ah ngan to pacong pae let.
21Giê-hô-va Đức Chúa Trời làm cho A-đam ngủ mê, bèn lấy một xương sườn, rồi lấp thịt thế vào.
22Angraeng Sithaw mah kami khae hoi lak ih, panak huh hoiah nongpata to sak moe, anih to nongpa khaeah a caeh haih.
22Giê-hô-va Đức Chúa Trời dùng xương sườn đã lấy nơi A-đam làm nên một người nữ, đưa đến cùng A-đam.
23Adam mah, Hae loe ka huhnawk thung ih ahuh, ka ngan thung ih ngan ah oh; anih loe Nongpa thung hoiah lak ah oh pongah, Nongpata, tiah kawk han oh, tiah thuih.
23A-đam nói rằng: Người nầy là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người nầy sẽ được gọi là người nữ, vì nó do nơi người nam mà có.
24To pongah nongpa mah ampa hoi amno to caehtaak ueloe, a zu to la tih, to naah nihnik loe takpum maeto ah om hoi tih.
24Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ trở nên một thịt.
25Nongpa hoi a zu loe bangkrai ah oh hoi, toe azathaih tawn hoi ai.
25Vả, A-đam và vợ, cả hai đều trần truồng, mà chẳng hổ thẹn.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.