1 Mojžíšova
Chapter 11
Kralice Bible (1613)
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

1 Mojžíšova 11

Kralice Bible (1613)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Byla pak všecka země jazyku jednoho a řeči jedné.
1Vả, cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng.
2I stalo se, když se brali od východu, nalezli pole v zemi Sinear, a bydlili tam.
2Nhưng khi ở Đông phương dời đi, người ta gặp một đồng bằng trong xứ Si-nê-a, rồi ở tại đó.
3A řekli jeden druhému: Nuže, nadělejme cihel, a vypalme je ohněm. I měli cihly místo kamení, a zemi lepkou místo vápna.
3Người nầy nói với người kia rằng: Hè! chúng ta hãy làm gạch và hầm trong lửa. Lúc đó, gạch thế cho đá, còn chai thế cho hồ.
4Nebo řekli: Nuže, vystavějme sobě město a věži, jejíž by vrch dosahal k nebi; a tak učiňme sobě jméno, abychom nebyli rozptýleni po vší zemi.
4Lại nói rằng: Nào! chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời; ta hãy lo làm cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất.
5Sstoupil pak Hospodin, aby viděl to město a věži, kterouž stavěli synové lidští.
5Đức Giê-hô-va bèn ngự xuống đặng xem cái thành và tháp của con cái loài người xây nên.
6A řekl Hospodin: Aj, lid jeden a jazyk jeden všechněch těchto, a toť jest začátek díla jejich; nyní pak nedadí sobě v tom překaziti, což umínili dělati.
6Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ tiếng; và kia kìa công việc chúng nó đang khởi làm; bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được.
7Protož sstupme a změťme tam jazyk jejich, aby jeden druhého jazyku nerozuměl.
7Thôi! chúng ta, hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia.
8A tak rozptýlil je Hospodin odtud po vší zemi; i přestali stavěti města toho.
8Rồi, từ đó Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành.
9Protož nazváno jest jméno jeho Bábel; nebo tu zmátl Hospodin jazyk vší země; a odtud rozptýlil je Hospodin po vší zemi.
9Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.
10Titoť jsou rodové Semovi: Sem, když byl ve stu letech, zplodil Arfaxada ve dvou letech po potopě.
10Đây là dòng dõi của Sem: Cách hai năm, sau cơn nước lụt, Sem được một trăm tuổi, sanh A-bác-sát.
11A byl živ Sem po zplození Arfaxada pět set let; a plodil syny a dcery.
11Sau khi Sem sanh A-bác-sát rồi, còn sống được năm trăm năm, sanh con trai con gái.
12Arfaxad pak živ byl pět a třidceti let, a zplodil Sále.
12A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sanh Sê-lách.
13A po zplození Sále živ byl Arfaxad čtyři sta a tři léta; a plodil syny a dcery.
13Sau khi A-bác-sát sanh Sê-lách rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con gái.
14Sále také živ byl třidceti let, a zplodil Hebera.
14Sê-lách được ba mươi tuổi, sanh Hê-be.
15A živ byl Sále po zplození Hebera čtyři sta a tři léta; a plodil syny a dcery.
15Sau khi Sê-lách sanh Hê-be rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con gái.
16Živ pak byl Heber čtyři a třidceti let, a zplodil Pelega.
16Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sanh Bê-léc.
17A živ byl Heber po zplození Pelega čtyři sta a třidceti let; a plodil syny a dcery.
17Sau khi Hê-be sanh Bê-léc rồi, còn sống được bốn trăm ba mươi năm, sanh con trai con gái.
18Peleg pak živ byl třidceti let, a zplodil Réhu.
18Bê-léc được ba mươi tuổi, sanh Rê-hu
19A živ byl Peleg po zplození Réhu dvě stě a devět let; a plodil syny a dcery.
19Sau khi Bê-léc sanh Rê-hu rồi, còn sống được hai trăm chín năm, sanh con trai con gái.
20Réhu také živ byl třidceti a dvě létě, a zplodil Sáruga.
20Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sanh Sê-rúc.
21A po zplození Sáruga živ byl Réhu dvě stě a sedm let; a plodil syny a dcery.
21Sau khi Rê-hu sanh Sê-rúc rồi, còn sống được hai trăm bảy năm, sanh con trai con gái.
22Živ pak byl Sárug třidceti let, a zplodil Náchora.
22Sê-rúc được ba mươi tuổi, sanh Na-cô.
23A byl živ Sárug po zplození Náchora dvě stě let; a plodil syny a dcery.
23Sau khi Sê-rúc sanh Na-cô rồi, còn sống được hai trăm năm, sanh con trai con gái.
24Náchor pak živ byl dvadceti a devět let, a zplodil Táre.
24Na-cô được hai mươi chín tuổi, sanh Tha-rê.
25A živ byl Náchor po zplození Táre sto a devatenácte let; a plodil syny a dcery.
25Sau khi Na-cô sanh Tha-rê rồi, còn sống được một trăm mười chín năm, sanh con trai con gái.
26Živ pak byl Táre sedmdesáte let, a zplodil Abrama, Náchora a Hárana.
26Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sanh Aùp-ram, Na-cô và Ha-ran.
27Tito jsou pak rodové Táre: Táre zplodil Abrama, Náchora a Hárana; Háran pak zplodil Lota.
27Đây là dòng dõi của Tha-rê: Tha-rê sanh Aùp-ram, Na-cô và Ha-ran; Ha-ran sanh Lót.
28Umřel pak Háran prvé než Táre otec jeho v zemi narození svého, totiž v Ur Kaldejských.
28Ha-ran qua đời tại quê hương mình, tức là U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, khi cha người là Tha-rê hãy còn sống.
29I zpojímali sobě ženy Abram a Náchor; jméno ženy Abramovy Sarai, a jméno ženy Náchorovy Melcha, dcera Háranova, kterýž byl otec Melchy a Jeschy.
29Aùp-ram và Na-cô cưới vợ; vợ Aùp-ram tên là Sa-rai, còn vợ Na-cô tên là Minh-ca; Minh-ca và Dích-ca tức là con gái của Ha-ran.
30Byla pak Sarai neplodná, a neměla dětí.
30Vả, Sa-rai son sẻ, nên người không có con.
31I vzal Táre Abrama syna svého, a Lota syna Háranova, vnuka svého, a Sarai nevěstu svou, ženu Abrama syna svého, a vyšli spolu z Ur Kaldejských, aby se brali do země Kananejské, a přišli až do Cháran, a bydlili tam.
31Tha-rê dẫn Aùp-ram, con trai mình, Lót, con trai Ha-ran, cháu mình, và Sa-rai, vợ Aùp-ram, tức dâu mình, đồng ra khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, đặng qua xứ Ca-na-an. Khi đến Cha-ran thì lập gia cư tại đó.
32A byli dnové Táre dvě stě a pět let; i umřel Táre v Cháran.
32Tha-rê hưởng thọ được hai trăm năm tuổi, rồi qua đời tại Cha-ran.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.