Бытие

Old Testament

New Testament

Chapter 11
Synodal Translation (Син…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Synodal Translation (Синодальный перевод)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1На всей земле был один язык и одно наречие.
1Vả, cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng.
2Двинувшись с востока, они нашли в земле Сеннаар равнину и поселились там.
2Nhưng khi ở Đông phương dời đi, người ta gặp một đồng bằng trong xứ Si-nê-a, rồi ở tại đó.
3И сказали друг другу: наделаем кирпичей и обожжем огнем. И стали у них кирпичи вместо камней, а земляная смола вместо извести.
3Người nầy nói với người kia rằng: Hè! chúng ta hãy làm gạch và hầm trong lửa. Lúc đó, gạch thế cho đá, còn chai thế cho hồ.
4И сказали они: построим себе город и башню, высотою до небес, и сделаем себе имя, прежде нежели рассеемся по лицу всей земли.
4Lại nói rằng: Nào! chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời; ta hãy lo làm cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất.
5И сошел Господь посмотреть город и башню, которые строили сыны человеческие.
5Đức Giê-hô-va bèn ngự xuống đặng xem cái thành và tháp của con cái loài người xây nên.
6И сказал Господь: вот, один народ, и один у всех язык; и вот что начали они делать, и не отстанут они от того, что задумали делать;
6Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ tiếng; và kia kìa công việc chúng nó đang khởi làm; bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được.
7сойдем же и смешаем там язык их, так чтобы один не понимал речи другого.
7Thôi! chúng ta, hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia.
8И рассеял их Господь оттуда по всей земле; и они перестали строить город и башню.
8Rồi, từ đó Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành.
9Посему дано ему имя: Вавилон, ибо там смешал Господь язык всей земли, и оттуда рассеял их Господь по всей земле.
9Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.
10Вот родословие Сима: Сим был ста лет и родил Арфаксада, чрез два года после потопа;
10Đây là dòng dõi của Sem: Cách hai năm, sau cơn nước lụt, Sem được một trăm tuổi, sanh A-bác-sát.
11по рождении Арфаксада Сим жил пятьсот лет и родил сынов и дочерей и умер.
11Sau khi Sem sanh A-bác-sát rồi, còn sống được năm trăm năm, sanh con trai con gái.
12Арфаксад жил тридцать пять лет и родил Каинана. По рождении Каинана Арфаксад жил триста тридцать лет и родил сынов и дочерей и умер. Каинан жил сто тридцать лет, и родил Салу.
12A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sanh Sê-lách.
13По рождении Салы Арфаксад Каинан жил четыреста три года и родил сынов и дочерей и умер.
13Sau khi A-bác-sát sanh Sê-lách rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con gái.
14Сала жил тридцать лет и родил Евера.
14Sê-lách được ba mươi tuổi, sanh Hê-be.
15По рождении Евера Сала жил четыреста три года и родил сынов и дочерей и умер.
15Sau khi Sê-lách sanh Hê-be rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con gái.
16Евер жил тридцать четыре года и родил Фалека.
16Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sanh Bê-léc.
17По рождении Фалека Евер жил четыреста тридцать лет и родил сынов и дочерей и умер.
17Sau khi Hê-be sanh Bê-léc rồi, còn sống được bốn trăm ba mươi năm, sanh con trai con gái.
18Фалек жил тридцать лет и родил Рагава.
18Bê-léc được ba mươi tuổi, sanh Rê-hu
19По рождении Рагава Фалек жил двести девять лет и родил сынов и дочерей и умер.
19Sau khi Bê-léc sanh Rê-hu rồi, còn sống được hai trăm chín năm, sanh con trai con gái.
20Рагав жил тридцать два года и родил Серуха.
20Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sanh Sê-rúc.
21По рождении Серуха Рагав жил двести семь лет и родил сынов и дочерей и умер.
21Sau khi Rê-hu sanh Sê-rúc rồi, còn sống được hai trăm bảy năm, sanh con trai con gái.
22Серух жил тридцать лет и родил Нахора.
22Sê-rúc được ba mươi tuổi, sanh Na-cô.
23По рождении Нахора Серух жил двести лет и родил сынов и дочерей и умер.
23Sau khi Sê-rúc sanh Na-cô rồi, còn sống được hai trăm năm, sanh con trai con gái.
24Нахор жил двадцать девять лет и родил Фарру.
24Na-cô được hai mươi chín tuổi, sanh Tha-rê.
25По рождении Фарры Нахор жил сто девятнадцать лет и родил сынов и дочерей и умер.
25Sau khi Na-cô sanh Tha-rê rồi, còn sống được một trăm mười chín năm, sanh con trai con gái.
26Фарра жил семьдесят лет и родил Аврама, Нахора и Арана.
26Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sanh Aùp-ram, Na-cô và Ha-ran.
27Вот родословие Фарры: Фарра родил Аврама, Нахора и Арана. Аран родил Лота.
27Đây là dòng dõi của Tha-rê: Tha-rê sanh Aùp-ram, Na-cô và Ha-ran; Ha-ran sanh Lót.
28И умер Аран при Фарре, отце своем, в земле рождения своего, в Уре Халдейском.
28Ha-ran qua đời tại quê hương mình, tức là U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, khi cha người là Tha-rê hãy còn sống.
29Аврам и Нахор взяли себе жен; имя жены Аврамовой: Сара; имя жены Нахоровой: Милка, дочь Арана, отца Милки и отца Иски.
29Aùp-ram và Na-cô cưới vợ; vợ Aùp-ram tên là Sa-rai, còn vợ Na-cô tên là Minh-ca; Minh-ca và Dích-ca tức là con gái của Ha-ran.
30И Сара была неплодна и бездетна.
30Vả, Sa-rai son sẻ, nên người không có con.
31И взял Фарра Аврама, сына своего, и Лота, сына Аранова, внука своего, и Сару, невестку свою, жену Аврама, сына своего, и вышел с ними из Ура Халдейского, чтобы идти в землю Ханаанскую; но, дойдя до Харрана, они остановились там.
31Tha-rê dẫn Aùp-ram, con trai mình, Lót, con trai Ha-ran, cháu mình, và Sa-rai, vợ Aùp-ram, tức dâu mình, đồng ra khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, đặng qua xứ Ca-na-an. Khi đến Cha-ran thì lập gia cư tại đó.
32И было дней жизни Фарры в Харранской земле двести пять лет, и умер Фарра в Харране.
32Tha-rê hưởng thọ được hai trăm năm tuổi, rồi qua đời tại Cha-ran.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.