Ісаїї 8
Kulish and Puluj Bible (1905)Translation
Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1І рече до мене Господь: Возьми великий звиток та й напиши на йому розборчиво письмом людським: „Квапся луп здирати, бери хутко користь.‟
1Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hãy lấy một cái bảng rộng và viết lên trên bằng bút loài người rằng: Ma-he-Sa-la-Hát-Bát.
2І взяв я надїйних сьвідків: сьвященника Урію та Захарію, сина Барахіїного, —
2Tôi đem theo những kẻ làm chứng đáng tin, tức là U-ri, thầy tế lễ, và Xa-cha-ri, con trai của Giê-bê-rê-kia.
3І приступив я до пророкинї, й завагонїла вона й вродила сина. І сказав менї Господь: Дай йому імя: „квапся луп здирати, бери хутко користь‟;
3Đoạn, tôi đến nhà nữ tiên tri; người chịu thai và sanh một con trai. Đức Giê-hô-va bèn phán cùng tôi rằng: Hãy đặt tên nó là Ma-he-Sa-la-Hát-Bát
4Перше бо, нїж хлопя зʼуміє вимовити „тату й мамо‟, заберуть скарби Дамаску й луп із Самариї перед царем Ассирийським.
4Vì, trước khi con trẻ biết kêu: Cha ơi! mẹ ơi! thì người ta sẽ cất lấy sự giàu có Đa-mách và của cướp Sa-ma-ri trước mặt vua A-si-ri.
5І говорив дальше до мене Господь;
5Đức Giê-hô-va lại phán cùng tôi rằng:
6За те, що сей люд нїзащо собі має тихі води Силоамські та вподобав собі Резина й Ремалїєнка,
6Vì dân nầy đã khinh bỏ các dòng nước Si-lô-ê chảy dịu, và ưa thích Rê-xin cùng con trai của Rê-ma-lia.
7Нашле на його Господь води ріки великої й бурливої, нашле царя Ассирийського й всю його силу, й прибуде вона в усїх руслах своїх і виступить із усїх берегів своїх;
7Vì cớ đó, nầy, Chúa sẽ khiến nước Sông mạnh và nhiều đến trên họ, tức là vua A-si-ri và cả oai vinh người; nó sẽ dấy lên khắp trên lòng sông, khỏa lên các bực;
8І розпливесь по Юдеї, підіймаючись що-раз висше, й сягати ме аж по шию; й розпростерті крила його сягати муть через усю ширину землї твоєї, Еммануїле.
8chảy vào Giu-đa, tràn lan chảy xói, ngập cho đến cổ; hỡi Em-ma-nu-ên, nó sè cánh ra che cả xứ ngươi.
9Ворогуйте собі, народи, та тремтїть; вважайте, всї далекі землї! Вʼоружуйтесь, та тремтїть; заперізуйтесь до бою, але дрожіть!
9Hỡi các dân, hãy kêu la và bị tan nát! Hỡi các ngươi hết thảy, là dân các phương xa, hãy lắng tai! Hãy nịt lưng các ngươi, và bị tan nát; hãy nịt lưng các ngươi, và bị tan nát!
10Складайте задуми, та вони в нїщо обернуться; виповідайте їх словом, та воно не збудесь, бо се — з нами Бог!
10Hãy toan mưu cùng nhau, nó sẽ nên hư không; hãy nói, lời các ngươi sẽ không đứng, vì Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.
11Бо ось що говорив менї Господь, поклавши на мене руку, й вкладаючи менї на серце, не ходити дорогою сього народу, — і промовив:
11Vì Đức Giê-hô-va dùng tay mạnh phán cùng ta, và dạy ta đừng noi theo đường dân ấy,
12Не говоріть: „Змова‟! бо народ сей все змовою вважає; не бійтесь того, чого він боїться, й не лякайтесь.
12rằng: Khi dân nầy nói rằng: Kết đảng! thì các ngươi chớ nói rằng: Kết đảng! Chớ sợ điều nó sợ, và đừng kinh hãi.
13Бога сил небесних — його, як сьвятого, шануйте; його одного вам боятись, перед ним вам дрожати!
13Hãy tôn Đức Giê-hô-va vạn quân là thánh; các ngươi chỉ nên sợ Ngài và kinh hãi Ngài.
14Він один ваше осьвященнє, та він камінь спотикнення та скеля згіршення обом домам Ізраїля; він сїть і западня осадникам Ерусалиму.
14Ngài sẽ là nơi thánh, nhưng cũng là hòn đá vấp ngã, vầng đó vướng mắc cho cả hai nhà Y-sơ-ra-ên, và là bẫy cùng lưới cho dân cư thành Giê-ru-sa-lem vậy.
15І багацько таких буде, що спіткнуться, впадуть — розібються, і запутаються в сїтї й будуть зловлені.
15Nhiều người trong bọn họ sẽ vấp chân; sẽ té và giập nát; sẽ sa vào lưới và bị bắt.
16Завяжи ж се сьвідченнє, й запечатай обяв при учениках моїх.
16Ngươi hãy gói lời chứng nầy, niêm phong luật pháp nầy trong môn đồ ta!
17От і надїюсь я на Господа, хоч він і закрив лице своє від дому Яковового, і я вповаю на його.
17Tôi trông đợi Đức Giê-hô-va, là Đấng ẩn mặt Ngài khỏi nhà Gia-cốp, tôi vẫn ngóng trông Ngài!
18Ось я й дїти, що дав менї Господь як дороговкази та прообрази в Ізраїлї від Господа сил, пробуваючого на Сион-горі!
18Nầy, tôi đây, với con cái mà Đức Giê-hô-va đã ban cho tôi, là dấu và điềm trong Y-sơ-ra-ên, bởi Đức Giê-hô-va vạn quân ngự trên núi Si-ôn.
19Коли радять вам: Питайте тих, що померших викликають, чарівників, шептухів та тих, що з черева говорять, — то ви одкажіть: Хиба ж народові не до свого обертатись Бога? хиба ж мерцїв про живих питати?
19Nếu có ai bảo các ngươi: Hãy cầu hỏi đồng bóng và thầy bói, là kẻ nói ríu rít líu lo, thì hãy đáp rằng: Một dân tộc há chẳng nên cầu hỏi Đức Chúa Trời mình sao? Há lại vì người sống mà hỏi kẻ chết sao?
20Звертайтесь до закону та до обяву. А вони, — як не так говорять, як там сказано, то нема в них сьвітла.
20Hãy theo luật pháp và lời chứng! Nếu dân chẳng nói như vậy, chắc sẽ chẳng có rạng đông cho nó.
21І будуть блукатись по землї, гноблені й голодні; а в голодї будуть лютувати та царя свого й Бога свого дармо проклинати.
21Nó sẽ đi lưu lạc trên đất, khốn khổ đói khát; trong cơn đói, nó bực mình, nguyền rủa vua và Đức Chúa Trời mình. Nó sẽ ngước xem trên cao;
22Поглянуть вгору, й позирнуть на землю, — а всюди горе, морок і густа темрява, й в темряву попадуть. Та не на все буде там темрява, де вона тепер така густа.
22rồi cúi xem dưới đất, chỉ thấy sự hoạn nạn và mờ mịt, chỉ thấy bóng buồn rầu: nó sẽ bị đuổi vào nơi tối tăm mờ mịt.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.