Thi 37
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Louis Segond 1910
1Chớ phiền lòng vì cớ kẻ làm dữ, Cũng đừng ghen tị kẻ tập tành sự gian ác.
1De David. Ne t’irrite pas contre les méchants, N’envie pas ceux qui font le mal.
2Vì chẳng bao lâu chúng nó sẽ bị phát như cỏ, Và phải héo như cỏ tươi xanh.
2Car ils sont fauchés aussi vite que l’herbe, Et ils se flétrissent comme le gazon vert.
3Hãy tin cậy Đức Giê-hô-va, và làm điều lành; Khá ở trong xứ, và nuôi mình bằng sự thành tín của Ngài.
3Confie-toi en l’Éternel, et pratique le bien; Aie le pays pour demeure et la fidélité pour pâture.
4Cũng hãy khoái lạc nơi Đức Giê-hô-va, Thì Ngài sẽ ban cho ngươi điều lòng mình ao ước.
4Fais de l’Éternel tes délices, Et il te donnera ce que ton cœur désire.
5Hãy phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va, Và nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành việc ấy.
5Recommande ton sort à l’Éternel, Mets en lui ta confiance, et il agira.
6Ngài sẽ khiến công bình ngươi lộ ra như ánh sáng, Và tỏ ra lý đoán ngươi như chánh ngọ.
6Il fera paraître ta justice comme la lumière, Et ton droit comme le soleil à son midi.
7Hãy yên tịnh trước mặt Đức Giê-hô-va, và chờ đợi Ngài. Chớ phiền lòng vì cớ kẻ được may mắn trong con đường mình, Hoặc vì cớ người làm thành những mưu ác.
7Garde le silence devant l’Éternel, et espère en lui; Ne t’irrite pas contre celui qui réussit dans ses voies, Contre l’homme qui vient à bout de ses mauvais desseins.
8Hãy dẹp sự giận, và bỏ sự giận hoảng; Chớ phiền lòng, vì điều đó chỉ gây ra việc ác.
8Laisse la colère, abandonne la fureur; Ne t’irrite pas, ce serait mal faire.
9Vì những kẻ làm ác sẽ bị diệt; Còn kẻ nào trông đợi Đức Giê-hô-va sẽ được đất làm cơ nghiệp.
9Car les méchants seront retranchés, Et ceux qui espèrent en l’Éternel posséderont le pays.
10Một chút nữa kẻ ác không còn. Ngươi sẽ xem xét chỗ hắn, thật không còn nữa.
10Encore un peu de temps, et le méchant n’est plus; Tu regardes le lieu où il était, et il a disparu.
11Song người hiền từ sẽ nhận được đất làm cơ nghiệp, Và được khoái lạc về bình yên dư dật.
11Les misérables possèdent le pays, Et ils jouissent abondamment de la paix.
12Kẻ ác lập mưu nghịch người công bình, Và nghiến răng cùng người.
12Le méchant forme des projets contre le juste, Et il grince des dents contre lui.
13Chúa sẽ chê cười nó, Vì thấy ngày phạt nó hầu đến.
13Le Seigneur se rit du méchant, Car il voit que son jour arrive.
14Kẻ ác đã rút gươm và giương cung mình, Đặng đánh đổ người khốn cùng và kẻ thiếu thốn, Đặng giết người đi theo sự ngay thẳng.
14Les méchants tirent le glaive, Ils bandent leur arc, Pour faire tomber le malheureux et l’indigent, Pour égorger ceux dont la voie est droite.
15Gươm chúng nó sẽ đâm vào lòng chúng nó, Và cung chúng nó sẽ bị gãy.
15Leur glaive entre dans leur propre cœur, Et leurs arcs se brisent.
16Của người công bình tuy ít, Còn hơn sự dư dật của nhiều người ác.
16Mieux vaut le peu du juste Que l’abondance de beaucoup de méchants;
17Vì cánh tay kẻ ác sẽ bị gãy, Nhưng Đức Giê-hô-va nâng đỡ người công bình.
17Car les bras des méchants seront brisés, Mais l’Éternel soutient les justes.
18Đức Giê-hô-va biết số ngày kẻ trọn vẹn, Và cơ nghiệp người sẽ còn đến đời đời.
18L’Éternel connaît les jours des hommes intègres, Et leur héritage dure à jamais.
19Trong thì xấu xa họ không bị hổ thẹn; Trong ngày đói kém họ được no nê.
19Ils ne sont pas confondus au temps du malheur, Et ils sont rassasiés aux jours de la famine.
20Còn kẻ ác sẽ hư mất, Những kẻ thù nghịch Đức Giê-hô-va sẽ như mỡ chiên con: Chúng nó phải đốt tiêu, tan đi như khói.
20Mais les méchants périssent, Et les ennemis de l’Éternel, comme les plus beaux pâturages; Ils s’évanouissent, ils s’évanouissent en fumée.
21Kẻ ác mượn, mà không trả lại; Còn người công bình làm ơn, và ban cho.
21Le méchant emprunte, et il ne rend pas; Le juste est compatissant, et il donne.
22Vì người mà Đức Chúa Trời ban phước cho sẽ nhận được đất; Còn kẻ mà Ngài rủa sả sẽ bị diệt đi.
22Car ceux que bénit l’Éternel possèdent le pays, Et ceux qu’il maudit sont retranchés.
23Đức Giê-hô-va định liệu các bước của người, Và Ngài thích đường lối người:
23L’Éternel affermit les pas de l’homme, Et il prend plaisir à sa voie;
24Dầu người té, cũng không nằm sải dài; Vì Đức Giê-hô-va lấy tay Ngài nâng đỡ người.
24S’il tombe, il n’est pas terrassé, Car l’Éternel lui prend la main.
25Trước tôi trẻ, rày đã già, Nhưng chẳng hề thấy người công bình bị bỏ, Hay là dòng dõi người đi ăn mày.
25J’ai été jeune, j’ai vieilli; Et je n’ai point vu le juste abandonné, Ni sa postérité mendiant son pain.
26Hằng ngày người thương xót, và cho mượn; Dòng dõi người được phước.
26Toujours il est compatissant, et il prête; Et sa postérité est bénie.
27Hãy tránh điều dữ, và làm điều lành, Thì sẽ được ở đời đời.
27Détourne-toi du mal, fais le bien, Et possède à jamais ta demeure.
28Vì Đức Giê-hô-va chuộng sự công bình, Không từ bỏ người thánh của Ngài; họ được Ngài gìn giữ đời đời: Còn dòng dõi kẻ dữ sẽ bị diệt đi.
28Car l’Éternel aime la justice, Et il n’abandonne pas ses fidèles; Ils sont toujours sous sa garde, Mais la postérité des méchants est retranchée.
29Người công bình sẽ nhận được đất, Và ở tại đó đời đời.
29Les justes posséderont le pays, Et ils y demeureront à jamais.
30Miệng người công bình xưng điều khôn ngoan, Và lưỡi người nói sự chánh trực.
30La bouche du juste annonce la sagesse, Et sa langue proclame la justice.
31Luật pháp Đức Chúa Trời người ở trong lòng người; Bước người không hề xiêu tó.
31La loi de son Dieu est dans son cœur; Ses pas ne chancellent point.
32Kẻ ác rình rập người công bình, Và tìm giết người.
32Le méchant épie le juste, Et il cherche à le faire mourir.
33Đức Giê-hô-va không bỏ người trong tay hắn, Cũng chẳng định tội cho người khi người bị đoán xét.
33L’Éternel ne le laisse pas entre ses mains, Et il ne le condamne pas quand il est en jugement.
34Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va, và giữ theo đường Ngài, Thì Ngài sẽ nâng ngươi khiến để nhận được đất! Khi kẻ ác bị diệt đi, thì ngươi sẽ thấy điều ấy.
34Espère en l’Éternel, garde sa voie, Et il t’élèvera pour que tu possèdes le pays; Tu verras les méchants retranchés.
35Tôi từng thấy kẻ ác có thế lực lớn, Trải ra như cây xanh tươi mọc nơi cố thổ,
35J’ai vu le méchant dans toute sa puissance; Il s’étendait comme un arbre verdoyant.
36Song có người đi qua, kìa, hắn chẳng còn nữa; Tôi tìm hắn, nhưng không gặp.
36Il a passé, et voici, il n’est plus; Je le cherche, et il ne se trouve plus.
37Hãy chăm chú người trọn vẹn, và nhìn xem người ngay thẳng; Vì cuối cùng người hòa bình có phước.
37Observe celui qui est intègre, et regarde celui qui est droit; Car il y a une postérité pour l’homme de paix.
38Còn các kẻ vi phạm sẽ cùng nhau bị hủy hoại; Sự tương lai kẻ ác sẽ bị diệt đi.
38Mais les rebelles sont tous anéantis, La postérité des méchants est retranchée.
39Nhưng sự cứu rỗi người công bình do Đức Giê-hô-va mà đến; Ngài là đồn lũy của họ trong thì gian truân.
39Le salut des justes vient de l’Éternel; Il est leur protecteur au temps de la détresse.
40Đức Giê-hô-va giúp đỡ và giải cứu họ; Ngài giải họ khỏi kẻ ác và cứu rỗi cho, Bởi vì họ đã nương náu mình nơi Ngài.
40L’Éternel les secourt et les délivre; Il les délivre des méchants et les sauve, Parce qu’ils cherchent en lui leur refuge.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.