Thi 37
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Clementine Vulgate, 1598
1Chớ phiền lòng vì cớ kẻ làm dữ, Cũng đừng ghen tị kẻ tập tành sự gian ác.
1Psalmus David, in rememorationem de sabbato.
2Vì chẳng bao lâu chúng nó sẽ bị phát như cỏ, Và phải héo như cỏ tươi xanh.
2[Domine, ne in furore tuo arguas me, neque in ira tua corripias me:
3Hãy tin cậy Đức Giê-hô-va, và làm điều lành; Khá ở trong xứ, và nuôi mình bằng sự thành tín của Ngài.
3quoniam sagittæ tuæ infixæ sunt mihi, et confirmasti super me manum tuam.
4Cũng hãy khoái lạc nơi Đức Giê-hô-va, Thì Ngài sẽ ban cho ngươi điều lòng mình ao ước.
4Non est sanitas in carne mea, a facie iræ tuæ; non est pax ossibus meis, a facie peccatorum meorum:
5Hãy phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va, Và nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành việc ấy.
5quoniam iniquitates meæ supergressæ sunt caput meum, et sicut onus grave gravatæ sunt super me.
6Ngài sẽ khiến công bình ngươi lộ ra như ánh sáng, Và tỏ ra lý đoán ngươi như chánh ngọ.
6Putruerunt et corruptæ sunt cicatrices meæ, a facie insipientiæ meæ.
7Hãy yên tịnh trước mặt Đức Giê-hô-va, và chờ đợi Ngài. Chớ phiền lòng vì cớ kẻ được may mắn trong con đường mình, Hoặc vì cớ người làm thành những mưu ác.
7Miser factus sum et curvatus sum usque in finem; tota die contristatus ingrediebar.
8Hãy dẹp sự giận, và bỏ sự giận hoảng; Chớ phiền lòng, vì điều đó chỉ gây ra việc ác.
8Quoniam lumbi mei impleti sunt illusionibus, et non est sanitas in carne mea.
9Vì những kẻ làm ác sẽ bị diệt; Còn kẻ nào trông đợi Đức Giê-hô-va sẽ được đất làm cơ nghiệp.
9Afflictus sum, et humiliatus sum nimis; rugiebam a gemitu cordis mei.
10Một chút nữa kẻ ác không còn. Ngươi sẽ xem xét chỗ hắn, thật không còn nữa.
10Domine, ante te omne desiderium meum, et gemitus meus a te non est absconditus.
11Song người hiền từ sẽ nhận được đất làm cơ nghiệp, Và được khoái lạc về bình yên dư dật.
11Cor meum conturbatum est; dereliquit me virtus mea, et lumen oculorum meorum, et ipsum non est mecum.
12Kẻ ác lập mưu nghịch người công bình, Và nghiến răng cùng người.
12Amici mei et proximi mei adversum me appropinquaverunt, et steterunt; et qui juxta me erant, de longe steterunt: et vim faciebant qui quærebant animam meam.
13Chúa sẽ chê cười nó, Vì thấy ngày phạt nó hầu đến.
13Et qui inquirebant mala mihi, locuti sunt vanitates, et dolos tota die meditabantur.
14Kẻ ác đã rút gươm và giương cung mình, Đặng đánh đổ người khốn cùng và kẻ thiếu thốn, Đặng giết người đi theo sự ngay thẳng.
14Ego autem, tamquam surdus, non audiebam; et sicut mutus non aperiens os suum.
15Gươm chúng nó sẽ đâm vào lòng chúng nó, Và cung chúng nó sẽ bị gãy.
15Et factus sum sicut homo non audiens, et non habens in ore suo redargutiones.
16Của người công bình tuy ít, Còn hơn sự dư dật của nhiều người ác.
16Quoniam in te, Domine, speravi; tu exaudies me, Domine Deus meus.
17Vì cánh tay kẻ ác sẽ bị gãy, Nhưng Đức Giê-hô-va nâng đỡ người công bình.
17Quia dixi: Nequando supergaudeant mihi inimici mei; et dum commoventur pedes mei, super me magna locuti sunt.
18Đức Giê-hô-va biết số ngày kẻ trọn vẹn, Và cơ nghiệp người sẽ còn đến đời đời.
18Quoniam ego in flagella paratus sum, et dolor meus in conspectu meo semper.
19Trong thì xấu xa họ không bị hổ thẹn; Trong ngày đói kém họ được no nê.
19Quoniam iniquitatem meam annuntiabo, et cogitabo pro peccato meo.
20Còn kẻ ác sẽ hư mất, Những kẻ thù nghịch Đức Giê-hô-va sẽ như mỡ chiên con: Chúng nó phải đốt tiêu, tan đi như khói.
20Inimici autem mei vivunt, et confirmati sunt super me: et multiplicati sunt qui oderunt me inique.
21Kẻ ác mượn, mà không trả lại; Còn người công bình làm ơn, và ban cho.
21Qui retribuunt mala pro bonis detrahebant mihi, quoniam sequebar bonitatem.
22Vì người mà Đức Chúa Trời ban phước cho sẽ nhận được đất; Còn kẻ mà Ngài rủa sả sẽ bị diệt đi.
22Ne derelinquas me, Domine Deus meus; ne discesseris a me.
23Đức Giê-hô-va định liệu các bước của người, Và Ngài thích đường lối người:
23Intende in adjutorium meum, Domine Deus salutis meæ.]
24Dầu người té, cũng không nằm sải dài; Vì Đức Giê-hô-va lấy tay Ngài nâng đỡ người.
no verse 24 in this text
25Trước tôi trẻ, rày đã già, Nhưng chẳng hề thấy người công bình bị bỏ, Hay là dòng dõi người đi ăn mày.
no verse 25 in this text
26Hằng ngày người thương xót, và cho mượn; Dòng dõi người được phước.
no verse 26 in this text
27Hãy tránh điều dữ, và làm điều lành, Thì sẽ được ở đời đời.
no verse 27 in this text
28Vì Đức Giê-hô-va chuộng sự công bình, Không từ bỏ người thánh của Ngài; họ được Ngài gìn giữ đời đời: Còn dòng dõi kẻ dữ sẽ bị diệt đi.
no verse 28 in this text
29Người công bình sẽ nhận được đất, Và ở tại đó đời đời.
no verse 29 in this text
30Miệng người công bình xưng điều khôn ngoan, Và lưỡi người nói sự chánh trực.
no verse 30 in this text
31Luật pháp Đức Chúa Trời người ở trong lòng người; Bước người không hề xiêu tó.
no verse 31 in this text
32Kẻ ác rình rập người công bình, Và tìm giết người.
no verse 32 in this text
33Đức Giê-hô-va không bỏ người trong tay hắn, Cũng chẳng định tội cho người khi người bị đoán xét.
no verse 33 in this text
34Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va, và giữ theo đường Ngài, Thì Ngài sẽ nâng ngươi khiến để nhận được đất! Khi kẻ ác bị diệt đi, thì ngươi sẽ thấy điều ấy.
no verse 34 in this text
35Tôi từng thấy kẻ ác có thế lực lớn, Trải ra như cây xanh tươi mọc nơi cố thổ,
no verse 35 in this text
36Song có người đi qua, kìa, hắn chẳng còn nữa; Tôi tìm hắn, nhưng không gặp.
no verse 36 in this text
37Hãy chăm chú người trọn vẹn, và nhìn xem người ngay thẳng; Vì cuối cùng người hòa bình có phước.
no verse 37 in this text
38Còn các kẻ vi phạm sẽ cùng nhau bị hủy hoại; Sự tương lai kẻ ác sẽ bị diệt đi.
no verse 38 in this text
39Nhưng sự cứu rỗi người công bình do Đức Giê-hô-va mà đến; Ngài là đồn lũy của họ trong thì gian truân.
no verse 39 in this text
40Đức Giê-hô-va giúp đỡ và giải cứu họ; Ngài giải họ khỏi kẻ ác và cứu rỗi cho, Bởi vì họ đã nương náu mình nơi Ngài.
no verse 40 in this text
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.