Thi 94
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Louis Segond 1910
1Hỡi Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời, sự báo thù thuộc về Ngài, Hỡi Đức Chúa Trời, sự báo thù thuộc về Ngài, xin hãy sáng rực rỡ Chúa ra.
1Dieu des vengeances, Éternel! Dieu des vengeances, parais!
2Hỡi quan xét thế gian, hãy chỗi dậy, Báo trả xứng đáng cho kẻ kiêu ngạo.
2Lève-toi, juge de la terre! Rends aux superbes selon leurs œuvres!
3Hỡi Đức Giê-hô-va, kẻ ác sẽ được thắng cho đến chừng nào?
3Jusques à quand les méchants, ô Éternel! Jusques à quand les méchants triompheront-ils?
4Chúng nó buông lời nói cách xấc xược. Những kẻ làm ác đều phô mình.
4Ils discourent, ils parlent avec arrogance; Tous ceux qui font le mal se glorifient.
5Hỡi Đức Giê-hô-va, chúng nó chà nát dân sự Ngài, Làm khổ sở cho cơ nghiệp Ngài.
5Éternel! Ils écrasent ton peuple, Ils oppriment ton héritage;
6Chúng nó giết người góa bụa, kẻ khách, Và làm chết những kẻ mồ côi.
6Ils égorgent la veuve et l’étranger, Ils assassinent les orphelins.
7Chúng nó rằng: Đức Giê-hô-va sẽ không thấy đâu, Đức Chúa Trời của Gia-cốp chẳng để ý vào.
7Et ils disent: L’Éternel ne regarde pas, Le Dieu de Jacob ne fait pas attention!
8Hỡi người u mê trong dân, khá xem xét; Hỡi kẻ ngu dại, bao giờ các ngươi mới khôn ngoan?
8Prenez-y garde, hommes stupides! Insensés, quand serez-vous sages?
9Đấng đã gắn tai há sẽ chẳng nghe sao? Đấng đã nắn con mắt há sẽ chẳng thấy ư?
9Celui qui a planté l’oreille n’entendrait-il pas? Celui qui a formé l’œil ne verrait-il pas?
10Đấng sửa phạt các nước há sẽ chẳng phạt sao? Aáy là Đấng dạy sự tri thức cho loài người.
10Celui qui châtie les nations ne punirait-il point, Lui qui donne à l’homme l’intelligence?
11Đức Giê-hô-va biết rằng tư tưởng loài người Chỉ là hư không.
11L’Éternel connaît les pensées de l’homme, Il sait qu’elles sont vaines.
12Hỡi Đức Giê-hô-va, phước cho người nào Ngài sửa phạt, Và dạy luật pháp Ngài cho,
12Heureux l’homme que tu châties, ô Éternel! Et que tu instruis par ta loi,
13Để ban cho người ấy được an nghỉ trong ngày hoạn nạn, Cho đến khi hầm đã đào xong cho những kẻ ác.
13Pour le calmer aux jours du malheur, Jusqu’à ce que la fosse soit creusée pour le méchant!
14Vì Đức Giê-hô-va không lìa dân sự Ngài, Cũng chẳng bỏ cơ nghiệp Ngài.
14Car l’Éternel ne délaisse pas son peuple, Il n’abandonne pas son héritage;
15Vì sự đoán xét sẽ trở về công bình, Phàm kẻ nào có lòng ngay thẳng sẽ theo.
15Car le jugement sera conforme à la justice, Et tous ceux dont le cœur est droit l’approuveront.
16Ai sẽ vì tôi dấy lên nghịch kẻ dữ? Ai sẽ đứng binh vực tôi đối cùng kẻ làm ác?
16Qui se lèvera pour moi contre les méchants? Qui me soutiendra contre ceux qui font le mal?
17Nếu Đức Giê-hô-va không giúp đỡ tôi, ỗt nữa linh hồn tôi đã ở nơi nín lặng.
17Si l’Éternel n’était pas mon secours, Mon âme serait bien vite dans la demeure du silence.
18Hỡi Đức Giê-hô-va, khi tôi nói: Chân tôi trợt, Thì sự nhân từ Ngài nâng đỡ tôi.
18Quand je dis: Mon pied chancelle! Ta bonté, ô Éternel! Me sert d’appui.
19Khi tư tưởng bộn bề trong lòng tôi, Thì sự an ủi Ngài làm vui vẻ linh hồn tôi.
19Quand les pensées s’agitent en foule au-dedans de moi, Tes consolations réjouissent mon âme.
20Ngôi kẻ ác nhờ luật pháp toan sự thiệt hại, Há sẽ giao thông với Chúa sao?
20Les méchants te feraient-ils siéger sur leur trône, Eux qui forment des desseins iniques en dépit de la loi?
21Chúng nó hiệp nhau lại nghịch linh hồn người công bình, Và định tội cho huyết vô tội.
21Ils se rassemblent contre la vie du juste, Et ils condamnent le sang innocent.
22Nhưng Đức Giê-hô-va là nơi ẩn náu cao của tôi; Đức Chúa Trời tôi là hòn đá, tức nơi tôi nương náu mình.
22Mais l’Éternel est ma retraite, Mon Dieu est le rocher de mon refuge.
23Ngài làm cho sự gian ác chúng nó đổ lại trên chúng nó, Và diệt chúng nó trong sự hung dữ chúng nó; Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi sẽ diệt chúng nó.
23Il fera retomber sur eux leur iniquité, Il les anéantira par leur méchanceté; L’Éternel, notre Dieu, les anéantira.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.