Proverbiorum
Chapter 24
Clementine Vulgate, 1598
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Proverbiorum 24

Clementine Vulgate, 1598
Vietnamese Bible (1923 translation)
1[Ne æmuleris viros malos, nec desideres esse cum eis:
1Chớ ganh ghét kẻ làm ác. Đừng ước ao ở cùng chúng nó.
2quia rapinas meditatur mens eorum, et fraudes labia eorum loquuntur.
2Vì lòng chúng nó toan điều hủy phá, Và môi họ nói ra sự tổn hại.
3Sapientia ædificabitur domus, et prudentia roborabitur.
3Nhờ sự khôn ngoan, cửa nhà được xây cất nên, Và được vững vàng bởi sự thông sáng;
4In doctrina replebuntur cellaria, universa substantia pretiosa et pulcherrima.
4Nhờ sự tri thức, các phòng vi đều được đầy đủ Các thứ tài vật quí báu và đẹp đẽ.
5Vir sapiens fortis est, et vir doctus robustus et validus:
5Người khôn ngoan có sức mạnh, Và người tri thức gia thêm năng lực.
6quia cum dispositione initur bellum, et erit salus ubi multa consilia sunt.
6Vì con phải nhờ mưu khôn mà đánh giặc; Đâu có nhiều mưu sĩ thì đặng toàn thắng.
7Excelsa stulto sapientia; in porta non aperiet os suum.
7Sự khôn ngoan lấy làm cao xa quá cho kẻ ngu dại; Nó không mở miệng ra nơi cửa thành.
8Qui cogitat mala facere stultus vocabitur:
8Kẻ nào toan làm điều ác, Người ta sẽ gọi hắn là kẻ gian giảo.
9cogitatio stulti peccatum est, et abominatio hominum detractor.
9Tư tưởng ngu dại là tội lỗi; Kẻ nhạo báng lấy làm gớm ghiếc cho loài người.
10Si desperaveris lassus in die angustiæ, imminuetur fortitudo tua.]
10Nếu con ngã lòng trong ngày hoạn nạn, Thì sức lực con nhỏ mọn thay.
11[Erue eos qui ducuntur ad mortem, et qui trahuntur ad interitum, liberare ne cesses.
11Hãy giải cứu kẻ bị đùa đến sự chết, Và chớ chối rỗi cho người đi xiêu tó tới chốn hình khổ.
12Si dixeris: Vires non suppetunt; qui inspector est cordis ipse intelligit: et servatorem animæ tuæ nihil fallit, reddetque homini juxta opera sua.
12Nếu con nói: Chúng tôi chẳng biết gì đến; Thì Đấng mà cân nhắc lòng người ta, há chẳng xem xét điều ấy sao? Và Đấng gìn giữ linh hồn con, há không biết đến ư? Chớ thì Ngài sẽ chẳng báo mỗi người tùy theo công việc họ làm sao?
13Comede, fili mi, mel, quia bonum est, et favum dulcissimum gutturi tuo.
13Hỡi con, hãy ăn mật, vì nó ngon lành; Tàng ong lấy làm ngọt ngào cho ổ gà con.
14Sic et doctrina sapientiæ animæ tuæ: quam cum inveneris, habebis in novissimis spem, et spes tua non peribit.
14Con sẽ biết sự khôn ngoan nơi linh hồn con cũng như vậy; Nếu con đã tìm được sự khôn ngoan, ắt sẽ có phần thưởng, Và sự trông đợi của con sẽ chẳng phải thành luống công.
15Ne insidieris, et quæras impietatem in domo justi, neque vastes requiem ejus.
15Hỡi kẻ ác, chớ rình rập nhà người công bình; Đừng phá tan chỗ nghĩ ngơi của người.
16Septies enim cadet justus, et resurget: impii autem corruent in malum.
16Vì người công bình dầu sa ngã bảy lần, cũng chổi dậy; Còn kẻ hung ác bị tai vạ đánh đổ.
17Cum ceciderit inimicus tuus ne gaudeas, et in ruina ejus ne exsultet cor tuum:
17Khi kẻ thù nghịch con sa ngã, chớ vui mừng; Lúc nó bị đánh đổ, lòng con đừng hớn hở;
18ne forte videat Dominus, et displiceat ei, et auferat ab eo iram suam.
18Kẻo e Đức Giê-hô-va thấy điều đó, mà chẳng đẹp lòng, Bèn cất cơn thạnh nộ Ngài khỏi nó chăng.
19Ne contendas cum pessimis, nec æmuleris impios:
19Chớ nổi giận vì cớ kẻ làm ác, Cũng đừng ganh ghét những người hung dữ;
20quoniam non habent futurorum spem mali, et lucerna impiorum extinguetur.
20Vì kẻ làm gian ác sẽ không được thiện báo, Và đèn kẻ hung dữ sẽ tắt đi.
21Time Dominum, fili mi, et regem, et cum detractoribus non commiscearis:
21Hỡi con, hãy kính sợ Đức Giê-hô-va và tôn kính vua; Chớ hội hiệp cùng kẻ phản nghịch;
22quoniam repente consurget perditio eorum, et ruinam utriusque quis novit?]
22Vì sự tai họa của chúng xảy đến thình lình; Và ai biết sự phá hại của người nầy người kia?
23Hæc quoque sapientibus. [Cognoscere personam in judicio non est bonum.
23Những ngôn ngữ nầy cũng do kẻ khôn ngoan mà đến: Trong việc xét đoán tư vị người, ấy chẳng phải tốt lành.
24Qui dicunt impio: Justus es: maledicent eis populi, et detestabuntur eos tribus.
24Kẻ nào nói với kẻ ác rằng: Ngươi là công bình, Sẽ bị dân tộc rủa sả, và các nước lấy làm gớm ghiếc mình;
25Qui arguunt eum laudabuntur, et super ipsos veniet benedictio.
25Còn người nào quở trách kẻ ác ắt sẽ được đẹp lòng, Và sự phước lành sẽ giáng trên họ.
26Labia deosculabitur qui recta verba respondet.
26Ai đáp lời chánh đáng, Tất như hôn nơi môi miệng vậy.
27Præpara foris opus tuum, et diligenter exerce agrum tuum, ut postea ædifices domum tuam.
27Hãy sửa sang công việc ở ngoài của con, Và sắm sẵn tại trong ruộng con; Rồi sau hãy cất nhà của con.
28Ne sis testis frustra contra proximum tuum, nec lactes quemquam labiis tuis.
28Chớ làm chứng vô cớ nghịch kẻ lân cận mình; Con há muốn lấy môi miệng mình mà phỉnh gạt sao?
29Ne dicas: Quomodo fecit mihi, sic faciam ei; reddam unicuique secundum opus suum.]
29Chớ nên nói: Tôi sẽ làm cho hắn như hắn đã làm cho tôi; Tôi sẽ báo người tùy công việc của người.
30[Per agrum hominis pigri transivi, et per vineam viri stulti:
30Ta có đi ngang qua gần ruộng kẻ biếng nhác, Và gần vườn nho của kẻ ngu muội,
31et ecce totum repleverant urticæ, et operuerant superficiem ejus spinæ, et maceria lapidum destructa erat.
31Thấy cây tật lê mọc khắp cùng, Gai góc che khuất mặt đất, Và tường đá của nó đã phá hư rồi
32Quod cum vidissem, posui in corde meo, et exemplo didici disciplinam.
32Ta nhìn xem, bèn để ý vào đó; Ta thấy và nhận được sự dạy dỗ.
33Parum, inquam, dormies, modicum dormitabis; pauxillum manus conseres ut quiescas:
33Ngủ một chút, chợp mắt một chút, Khoanh tay ngủ một chút,
34et veniet tibi quasi cursor egestas, et mendicitas quasi vir armatus.]
34Thì sự nghèo của con sẽ đến như một kẻ đi rạo, Và sự thiếu thốn của con áp tới như một kẻ cầm binh khí.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.