Proverbiorum 25
Clementine Vulgate, 1598Translation
Clementine Vulgate, 1598
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Hæ quoque parabolæ Salomonis, quas transtulerunt viri Ezechiæ regis Juda.
1Đây cũng là những châm ngôn của Sa-lô-môn, mà các người của Ê-xê-chia, vua Giu-đa sao tả.
2[Gloria Dei est celare verbum, et gloria regum investigare sermonem.
2Giấu kín việc nào, ấy là vinh hiển của Đức Chúa Trời; Nhưng dò xét điều nào, ấy là vinh hiển của các vua.
3Cælum sursum, et terra deorsum, et cor regum inscrutabile.
3Người ta không thể dò biết bề cao của từng trời, Bề sâu của đất, hay là lòng của các vua.
4Aufer rubiginem de argento, et egredietur vas purissimum.
4Hãy lấy cặn bã khỏi bạc, Thì thợ bạc liền được một khí dụng;
5Aufer impietatem de vultu regis, et firmabitur justitia thronus ejus.
5Hãy trừ kẻ ác khỏi trước mặt vua, Thì ngôi người sẽ nhờ công bình được lập bền vững.
6Ne gloriosus appareas coram rege, et in loco magnorum ne steteris.
6Chớ phô mình trước mặt vua, Và đừng ngồi tại chỗ của người cao trọng.
7Melius est enim ut dicatur tibi: Ascende huc, quam ut humilieris coram principe.]
7Vì thà người ta nói cùng con rằng: Hãy lên đây, Hơn là người ta hạ con xuống trước mặt vua chúa, mà mắt con đã thấy.
8[Quæ viderunt oculi tui ne proferas in jurgio cito, ne postea emendare non possis, cum dehonestaveris amicum tuum.
8Chớ vội gây ra điều tranh tụng, E rốt cuộc khi kẻ lân cận con đã làm con hổ thẹn, Con sẽ chẳng biết làm chi.
9Causam tuam tracta cum amico tuo, et secretum extraneo ne reveles:
9Hãy đối nại duyên cớ con với chính kẻ lân cận con, Song chớ tỏ sự kín đáo của kẻ khác;
10ne forte insultet tibi cum audierit, et exprobrare non cesset. Gratia et amicitia liberant: quas tibi serva, ne exprobrabilis fias.
10E khi người nghe điều ấy sẽ trách con, Và sự sỉ nhục con không hề bôi hết chăng.
11Mala aurea in lectis argenteis, qui loquitur verbum in tempore suo.
11Lời nói phải thì, Khác nào trái bình bát bằng vàng có cẩn bạc.
12Inauris aurea, et margaritum fulgens, qui arguit sapientem et aurem obedientem.
12Người khôn ngoan quở trách lỗ tai hay nghe, Khác nào một cái vòng vàng, một đồ trang sức bằng vàng ròng vậy.
13Sicut frigus nivis in die messis, ita legatus fidelis ei qui misit eum: animam ipsius requiescere facit.
13Sứ giả trung tín với người sai đi, Giống như tuyết mát mẻ trong ngày mùa gặt; Vì người bổ sức linh hồn của chủ mình.
14Nubes, et ventus, et pluviæ non sequentes, vir gloriosus et promissa non complens.
14Kẻ nào tự khoe khoang giả dối về lễ vật mình, Tợ như có mây có gió, mà không mưa.
15Patientia lenietur princeps, et lingua mollis confringet duritiam.]
15Hằng chậm nóng giận mới khuyên được lòng của quan trưởng; Còn lưỡi mềm dịu bẻ gãy các xương.
16[Mel invenisti: comede quod sufficit tibi, ne forte satiatus evomas illud.
16Nếu con tìm được mật, hãy ăn vừa phải, Kẻo khi ăn no chán, con mửa ra chăng.
17Subtrahe pedem tuum de domo proximi tui, nequando satiatus oderit te.
17Chớ năng bước chân đến nhà kẻ lân cận con, E người chán con, và trở lòng ghét con chăng.
18Jaculum, et gladius, et sagitta acuta, homo qui loquitur contra proximum suum falsum testimonium.
18Kẻ nào đối chứng giả dối cho người lân cận mình, Khác nào một cái búa, một cây gươm, một mũi tên nhọn.
19Dens putridus, et pes lassus, qui sperat super infideli in die angustiæ,
19Tin cậy kẻ bất trung trong ngày hoạn nạn, Giống như răng bị gãy bể, tỉ như chân trẹo đi.
20et amittit pallium in die frigoris. Acetum in nitro, qui cantat carmina cordi pessimo. Sicut tinea vestimento, et vermis ligno, ita tristitia viri nocet cordi.
20Ai hát cho lòng buồn thảm nghe, Khác nào kẻ lột áo mình khi ngày lạnh, Và như giấm đổ trên diêm tiêu vậy.
21Si esurierit inimicus tuus, ciba illum; si sitierit, da ei aquam bibere:
21Nếu kẻ thù nghịch con có đói, hãy cho nó ăn; Nếu có khát, hãy cho nó uống;
22prunas enim congregabis super caput ejus, et Dominus reddet tibi.
22Vì như vậy con chất than cháy đỏ trên đầu nó, Và Đức Giê-hô-va sẽ báo lại cho con.
23Ventus aquilo dissipat pluvias, et facies tristis linguam detrahentem.
23Gió bắc sanh ra mưa; Còn lưỡi nói hành cách kín đáo gây cho mặt mày giận dữ.
24Melius est sedere in angulo domatis quam cum muliere litigiosa et in domo communi.
24Thà ở một góc trên mái nhà, Hơn là ở chung nhà với người đàn bà hay tranh cạnh.
25Aqua frigida animæ sitienti, et nuntius bonus de terra longinqua.
25Tin Lành ở xứ xa đến, Giống như nước mát mẻ cho người khát khao.
26Fons turbatus pede et vena corrupta, justus cadens coram impio.
26Người công bình xiêu tó trước mặt kẻ gian ác, Khác nào một suối nước bị dấy đục, một nguồn nước bị hư.
27Sicut qui mel multum comedit non est ei bonum, sic qui scrutator est majestatis opprimetur a gloria.
27Aên mật nhiều quá lấy làm chẳng tốt; Và cầu kiếm vinh hiển cho mình ấy gây sự tổn hại.
28Sicut urbs patens et absque murorum ambitu, ita vir qui non potest in loquendo cohibere spiritum suum.]
28Người nào chẳng chế trị lòng mình, Khác nào một cái thành hư nát, không có vách ngăn.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.