Proverbiorum 17
Clementine Vulgate, 1598Translation
Clementine Vulgate, 1598
Vietnamese Bible (1923 translation)
1[Melior est buccella sicca cum gaudio quam domus plena victimis cum jurgio.
1Thà một miếng bánh khô mà hòa thuận, Còn hơn là nhà đầy thịt tế lễ lại cãi lộn nhau.
2Servus sapiens dominabitur filiis stultis, et inter fratres hæreditatem dividet.
2Tôi tớ khôn sáng sẽ quản trị con trai làm xấu hổ, Và được hưởng phần cơ nghiệp giữa các anh em.
3Sicut igne probatur argentum et aurum camino, ita corda probat Dominus.
3Nồi dót để luyện bạc, lò để luyện vàng; Nhưng Đức Giê-hô-va thử lòng của loài người.
4Malus obedit linguæ iniquæ, et fallax obtemperat labiis mendacibus.
4Kẻ làm ác chăm chỉ về môi gian ác; Kẻ hay nói dối lắng tai nghe lưỡi độc hiểm.
5Qui despicit pauperem exprobrat factori ejus, et qui ruina lætatur alterius non erit impunitus.
5Ai nhạo báng người bần cùng sỉ nhục Đấng tạo hóa mình; Ai vui mừng về tai họa sẽ chẳng được thoát khỏi bị phạt.
6Corona senum filii filiorum, et gloria filiorum patres eorum.
6Mão triều thiên của ông già, ấy là con cháu; Còn vinh hiển của con cái, ấy là ông cha.
7Non decent stultum verba composita, nec principem labium mentiens.
7Lời tốt lành không xứng với kẻ ngu; Môi miệng giả dối lại càng ít xứng cho vua chúa thay.
8Gemma gratissima exspectatio præstolantis; quocumque se vertit, prudenter intelligit.
8Của hối lộ giống như viên ngọc quí trước mặt ai được nó; Dầu nó xây trở phía nào, cũng được may mắn.
9Qui celat delictum quærit amicitias; qui altero sermone repetit, separat fœderatos.
9Kẻ nào lấp giấu tội lỗi tìm cầu điều tình ái; Còn ai nhắc lập lại điều gì chia rẽ bạn bậu thiết cốt.
10Plus proficit correptio apud prudentem, quam centum plagæ apud stultum.
10Lời quở trách thấm sâu vào người khôn ngoan, Hơn là trăm roi đánh vào kẻ ngu muội.
11Semper jurgia quærit malus: angelus autem crudelis mittetur contra eum.
11Kẻ gian ác chỉ tìm điều phản nghịch; Vì vậy sẽ sai một sứ giả dữ tợn đi hãm đánh nó.
12Expedit magis ursæ occurrere raptis fœtibus, quam fatuo confidenti in stultitia sua.
12Thà người ta gặp gấu cái bị cướp con, Hơn là gặp kẻ ngây dại theo điên cuồng nó.
13Qui reddit mala pro bonis, non recedet malum de domo ejus.
13Tai họa không hề lìa khỏi nhà Của kẻ lấy ác trả thiện.
14Qui dimittit aquam caput est jurgiorum, et antequam patiatur contumeliam judicium deserit.]
14Khởi đầu tranh cạnh, ấy như người ta mở đường nước chảy; Vậy, khá thôi cãi lẫy trước khi đánh lộn.
15[Qui justificat impium, et qui condemnat justum, abominabilis est uterque apud Deum.
15Ai xưng kẻ ác là công bình, và kẻ nào lên án cho người công bình, Cả hai điều lấy làm gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va.
16Quid prodest stulto habere divitias, cum sapientiam emere non possit? Qui altum facit domum suam quærit ruinam, et qui evitat discere incidet in mala.
16Kẻ ngu muội thiếu trí hiểu, Thế thì bạc trong tay hắn mua khôn ngoan mà chi?
17Omni tempore diligit qui amicus est, et frater in angustiis comprobatur.
17Bằng hữu thương mến nhau luôn luôn; Và anh em sanh ra để giúp đỡ trong lúc hoạn nạn.
18Stultus homo plaudet manibus, cum spoponderit pro amico suo.
18Kẻ ngu muội giao tay, Chịu làm bảo lãnh trước mặt kẻ lân cận mình.
19Qui meditatur discordias diligit rixas, et qui exaltat ostium quærit ruinam.
19Ai ưa tranh cạnh ưa tội lỗi; Ai xây cất cửa mình cao kiếm điều hư sập.
20Qui perversi cordis est non inveniet bonum, et qui vertit linguam incidet in malum.
20Kẻ nào có lòng vày vò không tìm được phước hạnh; Và ai có lưỡi gian tà sẽ sa vào tai hại.
21Natus est stultus in ignominiam suam; sed nec pater in fatuo lætabitur.
21Ai sanh con ngu muội ắt sẽ có buồn rầu; Còn cha của kẻ ngây dại chẳng được vui vẻ.
22Animus gaudens ætatem floridam facit; spiritus tristis exsiccat ossa.
22Lòng vui mừng vốn một phương thuốc hay; Còn trí nao sờn làm xương cốt khô héo.
23Munera de sinu impius accipit, ut pervertat semitas judicii.
23Người gian ác lãnh nhẹm của hối lộ, Đặng làm sai lệch các lối xét đoán.
24In facie prudentis lucet sapientia; oculi stultorum in finibus terræ.
24Có sự khôn ngoan trước mặt người thông sáng; Song con mắt kẻ ngu muội ở nơi địa cực.
25Ira patris filius stultus, et dolor matris quæ genuit eum.
25Con ngu muội là một điều buồn rầu cho cha, Và một sự cay đắng cho mẹ đã sanh đẻ nó.
26Non est bonum damnum inferre justo, nec percutere principem qui recta judicat.
26Lấy làm chẳng tốt mà phạt vạ người công bình, Hay là đánh người tước vị vì cớ lòng ngay thẳng của họ.
27Qui moderatur sermones suos doctus et prudens est, et pretiosi spiritus vir eruditus.
27Người nào kiêng lời nói mình có tri thức; Còn người có tánh ôn hàn là một người thông sáng.
28Stultus quoque, si tacuerit, sapiens reputabitur, et si compresserit labia sua, intelligens.]
28Khi nín lặng, dầu người ngu dại, cũng được cầm bằng khôn ngoan; Còn kẻ nào ngậm môi miệng mình lại được kể là thông sáng.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.