Proverbiorum
Chapter 19
Clementine Vulgate, 1598
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Proverbiorum 19

Clementine Vulgate, 1598
Vietnamese Bible (1923 translation)
1[Melior est pauper qui ambulat in simplicitate sua quam dives torquens labia sua, et insipiens.
1Thà người nghèo khổ ăn ở thanh liêm, Còn hơn là kẻ có môi miệng gian tà và là một kẻ ngây dại.
2Ubi non est scientia animæ, non est bonum, et qui festinus est pedibus offendet.
2Lòng thiếu tri thức ấy chẳng phải một điều hay; Vả kẻ nào vội bước bị vấp phạm.
3Stultitia hominis supplantat gressus ejus, et contra Deum fervet animo suo.
3Sự ngu dại của người nào làm cho hư hỏng đường lối mình, Và lòng người oán Đức Giê-hô-va.
4Divitiæ addunt amicos plurimos; a paupere autem et hi quos habuit separantur.
4Sự giàu có kết nhiều bậu bạn; Còn kẻ khó khăn dầu bạn cũng lìa bỏ.
5Testis falsus non erit impunitus, et qui mendacia loquitur non effugiet.
5Chứng gian nào chẳng bị phạt; Và kẻ buông điều giả dối không sao thoát khỏi.
6Multi colunt personam potentis, et amici sunt dona tribuentis.
6Có nhiều kẻ tìm ơn người rộng rãi; Và mỗi người đều là bằng hữu của kẻ hay ban lễ vật.
7Fratres hominis pauperis oderunt eum; insuper et amici procul recesserunt ab eo.] [Qui tantum verba sectatur nihil habebit;
7Hết thảy anh em ruột của kẻ nghèo đều ghét người; Phương chi bậu bạn sẽ lìa xa khỏi người! Người lấy lời đuổi theo chúng, chúng chẳng còn đó nữa!
8qui autem possessor est mentis diligit animam suam, et custos prudentiæ inveniet bona.
8Ai có được sự khôn ngoan thương mến linh hồn mình; Còn ai giữ lấy sự thông sáng tìm được phước hạnh.
9Falsus testis non erit impunitus, et qui loquitur mendacia peribit.
9Chứng gian sẽ chẳng thoát khỏi bị phạt; Và kẻ buông lời giả dối sẽ bị hư mất.
10Non decent stultum deliciæ, nec servum dominari principibus.
10Aên ở sung sướng chẳng xứng hiệp cho kẻ ngu muội; Phương chi kẻ tôi mọi cai trị các hoàng tử!
11Doctrina viri per patientiam noscitur, et gloria ejus est iniqua prætergredi.
11Sự khôn ngoan của người khiến cho người chậm nóng giận; Và người lấy làm danh dự mà bỏ qua tội phạm.
12Sicut fremitus leonis, ita et regis ira, et sicut ros super herbam, ita et hilaritas ejus.
12Vua thạnh nộ khác nào sư tử gầm thét; Còn ân dịch người như sương móc xuống trên đồng cỏ.
13Dolor patris filius stultus, et tecta jugiter perstillantia litigiosa mulier.
13Con trai ngu muội là tai họa cho cha nó; Và sự tranh cãi của người vợ vốn một máng xối hằng chảy luôn.
14Domus et divitiæ dantur a parentibus; a Domino autem proprie uxor prudens.
14Nhà cửa và tài sản là cơ nghiệp của tổ phụ để lại; Còn một người vợ khôn ngoan do nơi Đức Giê-hô-va mà đến.
15Pigredo immittit soporem, et anima dissoluta esuriet.
15Sự biếng nhác làm cho ngủ mê; Và linh hồn trễ nải sẽ bị đói khát.
16Qui custodit mandatum custodit animam suam; qui autem negligit viam suam mortificabitur.
16Ai gìn giữ điều răn, gìn giữ lấy linh hồn mình; Nhưng kẻ nào không coi chừng đường lối mình sẽ thác.
17Fœneratur Domino qui miseretur pauperis, et vicissitudinem suam reddet ei.
17Ai thương xót kẻ nghèo, tức cho Đức Giê-hô-va vay mượn; Ngài sẽ báo lại việc ơn lành ấy cho người.
18Erudi filium tuum; ne desperes: ad interfectionem autem ejus ne ponas animam tuam.
18Hãy sửa phạt con ngươi trong lúc còn sự trông cậy; Nhưng chớ toan lòng giết nó.
19Qui impatiens est sustinebit damnum, et cum rapuerit, aliud apponet.
19Người hay nóng giận dữ tợn, sẽ phải mang hình; Vì nếu con giải cứu hắn, ắt phải giải cứu lại nữa.
20Audi consilium, et suscipe disciplinam, ut sis sapiens in novissimis tuis.
20Hay nghe lời khuyên dạy, và tiếp nhận sự giáo hối, Để con được khôn ngoan trong lúc cuối cùng.
21Multæ cogitationes in corde viri; voluntas autem Domini permanebit.
21Trong lòng loài người có nhiều mưu kế; Song ý chỉ của Đức Giê-hô-va sẽ thành được.
22Homo indigens misericors est, et melior est pauper quam vir mendax.
22Lòng nhân từ của người làm cho người ta yêu chuộng mình; Và người nghèo khổ là hơn kẻ nói dối.
23Timor Domini ad vitam, et in plenitudine commorabitur absque visitatione pessima.]
23Sự kính sợ Đức Giê-hô-va dẫn đến sự sống, Làm cho người ta được ở thỏa nguyện, không bị tai họa lâm đến.
24[Abscondit piger manum suam sub ascella, nec ad os suum applicat eam.
24Kẻ biếng nhác thò tay mình trong dĩa, Rồi không thèm đem nó lên miệng mình nữa.
25Pestilente flagellato stultus sapientior erit; si autem corripueris sapientem, intelliget disciplinam.
25Hãy đánh kẻ nhạo báng, thì người ngu dại sẽ trở nên khôn khéo; Khá sửa dạy người thông sáng, ắt người sẽ hiểu điều tri thức.
26Qui affligit patrem, et fugat matrem, ignominiosus est et infelix.
26Kẻ hãm hại cha mình, và xô đuổi mẹ mình, Là một con trai gây hổ ngươi và chiêu sỉ nhục.
27Non cesses, fili, audire doctrinam, nec ignores sermones scientiæ.
27Hỡi con, hãy thôi nghe sự khuyên dạy Khiến cho con lầm lạc cách xa các lời tri thức.
28Testis iniquus deridet judicium, et os impiorum devorat iniquitatem.
28Chứng gian tà nhạo báng sự công bình; Và miệng kẻ dữ nuốt tội ác.
29Parata sunt derisoribus judicia, et mallei percutientes stultorum corporibus.]
29Sự xét đoán dự bị cho kẻ nhạo báng; Và roi vọt sắm sửa cho lưng kẻ ngu muội.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.