Proverbiorum 14
Clementine Vulgate, 1598Translation
Clementine Vulgate, 1598
Vietnamese Bible (1923 translation)
1[Sapiens mulier ædificat domum suam; insipiens exstructam quoque manibus destruet.
1Người nữ khôn ngoan xây cất nhà mình; Song kẻ ngu dại lấy tay mình mà phá hủy nó đi.
2Ambulans recto itinere, et timens Deum, despicitur ab eo qui infami graditur via.
2Ai đi theo sự ngay thẳng kính sợ Đức Giê-hô-va; Còn ai ăn ở tà vạy khinh bỉ Ngài,
3In ore stulti virga superbiæ; labia autem sapientium custodiunt eos.
3Trong miệng kẻ ngu dại có cây roi đánh phạt sự kiêu ngạo nó; Song môi người khôn ngoan giữ lấy người.
4Ubi non sunt boves, præsepe vacuum est; ubi autem plurimæ segetes, ibi manifesta est fortitudo bovis.
4Đâu không có bò, đó máng cỏ trống không; Nhưng nhiều hoa lợi do nơi sức bò đực mà ra.
5Testis fidelis non mentitur; profert autem mendacium dolosus testis.
5Người chứng trung thành không hề nói dối; Còn kẻ làm chứng gian buông lời dối trá.
6Quærit derisor sapientiam, et non invenit; doctrina prudentium facilis.
6Kẻ nhạo báng tìm khôn ngoan, mà không gặp; Song sự tri thức lấy làm dễ cho người thông sáng.
7Vade contra virum stultum, et nescit labia prudentiæ.
7Hãy dan xa khỏi mặt kẻ ngu muội, Con sẽ chẳng tìm được môi khôn ngoan nơi nó.
8Sapientia callidi est intelligere viam suam, et imprudentia stultorum errans.
8Sự trí huệ của người khôn khéo, ấy là hiểu rõ đường lối mình; Nhưng sự điên cuồng của kẻ ngu muội là sự phỉnh gạt.
9Stultus illudet peccatum, et inter justos morabitur gratia.
9Kẻ ngu dại bỉ báng tội lỗi; Nhưng người ngay thẳng có được ơn của Đức Chúa Trời.
10Cor quod novit amaritudinem animæ suæ, in gaudio ejus non miscebitur extraneus.
10Lòng nhìn biết sự cay đắng của lòng; Một người ngoại không chia vui với nó được.
11Domus impiorum delebitur: tabernacula vero justorum germinabunt.
11Nhà kẻ gian ác sẽ bị đánh đổ; Song trại người ngay thẳng sẽ được hưng thạnh.
12Est via quæ videtur homini justa, novissima autem ejus deducunt ad mortem.
12Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; Nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết.
13Risus dolore miscebitur, et extrema gaudii luctus occupat.
13Dầu trong lúc cười cợt lòng vẫn buồn thảm; Và cuối cùng sự vui, ấy là điều sầu não.
14Viis suis replebitur stultus, et super eum erit vir bonus.]
14Lòng kẻ nào lìa xa Đức Chúa Trời sẽ được no nê sự kết quả của mình; Còn người lành nhờ chính mình mà được thỏa nguyện.
15[Innocens credit omni verbo; astutus considerat gressus suos. Filio doloso nihil erit boni; servo autem sapienti prosperi erunt actus, et dirigetur via ejus.
15Kẻ ngu dốt tin hết mọi lời; Nhưng người khôn khéo xem xét các bước mình.
16Sapiens timet, et declinat a malo; stultus transilit, et confidit.
16Người khôn ngoan sợ và tránh khỏi điều ác; Song kẻ ngu muội ở xấc xược, và có lòng cậy mình.
17Impatiens operabitur stultitiam, et vir versutus odiosus est.
17Người nóng nảy làm điên làm dại; Và kẻ toan mưu ác bị ghét.
18Possidebunt parvuli stultitiam, et exspectabunt astuti scientiam.
18Kẻ ngu muội được sự điên dại làm cơ nghiệp; Song người khôn ngoan được đội mão triều thiên bằng tri thức.
19Jacebunt mali ante bonos, et impii ante portas justorum.
19Người ác phục trước mặt người thiện; Và kẻ dữ cúi lạy ở ngoài cửa người công bình.
20Etiam proximo suo pauper odiosus erit: amici vero divitum multi.
20Người nghèo khó dầu láng giềng cũng ghét bỏ; Nhưng bằng hữu của người giàu thì nhiều thay.
21Qui despicit proximum suum peccat; qui autem miseretur pauperis beatus erit. Qui credit in Domino misericordiam diligit.
21Ai khinh bỉ kẻ lân cận mình phạm tội; Còn ai thương xót người khốn khó lấy làm có phước thay.
22Errant qui operantur malum; misericordia et veritas præparant bona.
22Kẻ toan mưu ác há chẳng lầm lạc sao? Còn nhân từ và chân thật thuộc về người toan mưu thiện.
23In omni opere erit abundantia; ubi autem verba sunt plurima, ibi frequenter egestas.
23Trong các thứ công việc đều có ích lợi; Nhưng miệng nói nhiều chỉ dẫn đến sự thiếu thốn.
24Corona sapientium divitiæ eorum; fatuitas stultorum imprudentia.
24Giàu có là mão triều thiên cho người khôn ngoan; Còn điên cuồng của kẻ ngây dại chỉ là điên cuồng.
25Liberat animas testis fidelis, et profert mendacia versipellis.]
25Kẻ làm chứng chân thật giải cứu linh hồn người ta; Song kẻ nào nói dối gây sự phỉnh gạt.
26[In timore Domini fiducia fortitudinis, et filiis ejus erit spes.
26Trong sự kính sợ Đức Giê-hô-va có nơi nương cậy vững chắc; Và con cái Ngài sẽ được một nơi ẩn núp.
27Timor Domini fons vitæ, ut declinent a ruina mortis.
27Sự kính sợ Đức Giê-hô-va vốn một nguồn sự sống, Đặng khiến người ta tránh khỏi bẫy sự chết.
28In multitudine populi dignitas regis, et in paucitate plebis ignominia principis.
28Dân sự đông đảo, ấy là sự vinh hiển của vua; Còn dân sự ít, ấy khiến cho quan tướng bị bại.
29Qui patiens est multa gubernatur prudentia; qui autem impatiens est exaltat stultitiam suam.
29Kẻ nào chậm nóng giận có thông sáng lớn; Nhưng ai hay nóng nảy tôn lên sự điên cuồng.
30Vita carnium sanitas cordis; putredo ossium invidia.
30Lòng bình tịnh là sự sống của thân thể; Còn sự ghen ghét là đồ mục của xương cốt.
31Qui calumniatur egentem exprobrat factori ejus; honorat autem eum qui miseretur pauperis.
31Kẻ hà hiếp người nghèo khổ làm nhục Đấng Tạo hóa mình; Còn ai thương xót người bần cùng tôn trọng Ngài.
32In malitia sua expelletur impius: sperat autem justus in morte sua.
32Kẻ ác bị đánh đổ trong sự gian ác mình; Nhưng kẻ công bình vẫn có nơi nương cậy, dầu trong khi chết.
33In corde prudentis requiescit sapientia, et indoctos quosque erudiet.
33Sự khôn ngoan ở tại lòng người thông sáng; Còn điều ở trong lòng kẻ ngu muội được lộ ra.
34Justitia elevat gentem; miseros autem facit populos peccatum.
34Sự công bình làm cho nước cao trọng; Song tội lỗi là sự hổ thẹn cho các dân tộc.
35Acceptus est regi minister intelligens; iracundiam ejus inutilis sustinebit.]
35Vua làm ơn cho tôi tớ nào ăn ở khôn sáng; Nhưng cơn thạnh nộ vua nổi nghịch cùng kẻ gây sự hổ thẹn.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.