Palungha Lok 14
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Palungha nongpata loe a ohhaih im to sak; toe kamthu nongpata loe a im to a phraek.
1Người nữ khôn ngoan xây cất nhà mình; Song kẻ ngu dại lấy tay mình mà phá hủy nó đi.
2Angraeng zii kami loe katoeng loklam ah caeh; toe loklam amkhraeng kami loe Angraeng to khet patoek tihhaih ih ni.
2Ai đi theo sự ngay thẳng kính sợ Đức Giê-hô-va; Còn ai ăn ở tà vạy khinh bỉ Ngài,
3Kamthu ih pakha loe amoekhaih quiboeng ah oh; toe palungha kami ih pahni mah loe nihcae to pahlong tih.
3Trong miệng kẻ ngu dại có cây roi đánh phạt sự kiêu ngạo nó; Song môi người khôn ngoan giữ lấy người.
4Maitaw om ai ahmuen ih maitaw okduk loe cai pin; toe maitaw ih tha hoiah cang to a hak mangh.
4Đâu không có bò, đó máng cỏ trống không; Nhưng nhiều hoa lợi do nơi sức bò đực mà ra.
5Oep kaom hnukung loe kaminawk to aling ai; toe amsawn hnukung loe lok amlai.
5Người chứng trung thành không hề nói dối; Còn kẻ làm chứng gian buông lời dối trá.
6Minawk hnaphnae kami loe palunghahaih to pakrong, toe hnu ai; toe panoekhaih tawn kami hanah loe palungha zoidaek.
6Kẻ nhạo báng tìm khôn ngoan, mà không gặp; Song sự tri thức lấy làm dễ cho người thông sáng.
7Anih ih pahni ah palunghahaih om ai tiah na panoek nahaeloe, kamthu to om taak duem ah.
7Hãy dan xa khỏi mặt kẻ ngu muội, Con sẽ chẳng tìm được môi khôn ngoan nơi nó.
8Palungha kami loe a caehhaih loklam to palunghahaih hoiah poek; toe kamthu ih amthuhaih loe alinghaih ah oh.
8Sự trí huệ của người khôn khéo, ấy là hiểu rõ đường lối mình; Nhưng sự điên cuồng của kẻ ngu muội là sự phỉnh gạt.
9Kamthu loe zaehaih to tiah doeh sah ai; toe katoeng kaminawk khaeah loe tahmenhaih to oh.
9Kẻ ngu dại bỉ báng tội lỗi; Nhưng người ngay thẳng có được ơn của Đức Chúa Trời.
10Palung mah palungsethaih to panoek; mi mah doeh angmah anghoehaih to minawk han paek thai ai.
10Lòng nhìn biết sự cay đắng của lòng; Một người ngoại không chia vui với nó được.
11Kasae kami ih im loe amro tih; toe katoeng kami ih kahni im loe aquih tacawt tih.
11Nhà kẻ gian ác sẽ bị đánh đổ; Song trại người ngay thẳng sẽ được hưng thạnh.
12Kami maeto khaeah katoeng loklam maeto baktiah amtueng pae; toe boenghaih ah loe duekhaih loklam ah oh.
12Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; Nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết.
13Palungsethaih amtueng han ai ah pahnui kami doeh om tih; anghoehaih doeh palungsethaih hoiah boeng thaih.
13Dầu trong lúc cười cợt lòng vẫn buồn thảm; Và cuối cùng sự vui, ấy là điều sầu não.
14Hnuk angnawn kami loe a tok sakhaih atho to hnu tih; toe kahoih kami loe a sak ih hmuen baktih toengah tangqum to hnu tih.
14Lòng kẻ nào lìa xa Đức Chúa Trời sẽ được no nê sự kết quả của mình; Còn người lành nhờ chính mình mà được thỏa nguyện.
15Poek tawn ai kami loe minawk mah thuih ih loknawk boih to tang; toe palungha kami loe a caehhaih loklam to kahoih ah poek.
15Kẻ ngu dốt tin hết mọi lời; Nhưng người khôn khéo xem xét các bước mình.
16Palungha kami loe Angraeng to zit moe, sethaih to cawn taak; toe kamthu loe poekham moe misahoih.
16Người khôn ngoan sợ và tránh khỏi điều ác; Song kẻ ngu muội ở xấc xược, và có lòng cậy mình.
17Poek amthueng kami loe amthuhaih hoiah toksak; kahoih ai hmuen sak pacaeng kami loe minawk mah hnuma tih.
17Người nóng nảy làm điên làm dại; Và kẻ toan mưu ác bị ghét.
18Poekhaih tawn ai kami loe amthuhaih to qawk ah toep; toe palungha kaminawk loe palunghahaih lumuek to angmuek o.
18Kẻ ngu muội được sự điên dại làm cơ nghiệp; Song người khôn ngoan được đội mão triều thiên bằng tri thức.
19Kahoih ai kami loe katoeng kami hmaa ah angam sut tih; kasae kami doeh katoeng kami ih khongkha taengah angam sut tih.
19Người ác phục trước mặt người thiện; Và kẻ dữ cúi lạy ở ngoài cửa người công bình.
20Amtang kami loe a imtaeng kami mah doeh hnukma; toe angraeng loe ampui tawn mangh.
20Người nghèo khó dầu láng giềng cũng ghét bỏ; Nhưng bằng hữu của người giàu thì nhiều thay.
21Kami zae loe a imtaeng kami to khet patoek; toe kamtang tahmen kami loe tahamhoih.
21Ai khinh bỉ kẻ lân cận mình phạm tội; Còn ai thương xót người khốn khó lấy làm có phước thay.
22Sethaih poek kaminawk loe loklam caeh pazae o boeh na ai maw? Toe kahoih hmuen poek kaminawk loe amlunghaih hoi oepthohhaih to hnuk o.
22Kẻ toan mưu ác há chẳng lầm lạc sao? Còn nhân từ và chân thật thuộc về người toan mưu thiện.
23Toksakhaih boih ah toksakhaih atho to oh; toe lok khue thui kami loe amtang tih.
23Trong các thứ công việc đều có ích lợi; Nhưng miệng nói nhiều chỉ dẫn đến sự thiếu thốn.
24Palungha kaminawk ih angraenghaih loe angmacae ih sui lumuek ah oh; toe kamthunawk amthuhaih mah loe amthuhaih to tacawtsak aep.
24Giàu có là mão triều thiên cho người khôn ngoan; Còn điên cuồng của kẻ ngây dại chỉ là điên cuồng.
25Tangtang hnukung mah loe hinghaih to pahlong; toe amsawn hnukung ah kaom kami loe amsawnlok to thuih.
25Kẻ làm chứng chân thật giải cứu linh hồn người ta; Song kẻ nào nói dối gây sự phỉnh gạt.
26Angraeng zii kami loe kacak oephaih to tawn ueloe, a caanawk abuephaih ahmuen doeh tawn tih.
26Trong sự kính sợ Đức Giê-hô-va có nơi nương cậy vững chắc; Và con cái Ngài sẽ được một nơi ẩn núp.
27Angraeng zithaih loe hinghaih tuipuek ah oh moe, duekhaih dongh thung hoiah loisakkung ah oh.
27Sự kính sợ Đức Giê-hô-va vốn một nguồn sự sống, Đặng khiến người ta tránh khỏi bẫy sự chết.
28Kami pop prae thungah loe siangpahrang lensawkhaih to cak; toe kami tamsi prae ah loe siangpahrang amrohaih ah oh.
28Dân sự đông đảo, ấy là sự vinh hiển của vua; Còn dân sự ít, ấy khiến cho quan tướng bị bại.
29Panoekhaih kathuk kami loe palungsawk; toe poek amthueng kami loe amthuhaih to amtuengsak.
29Kẻ nào chậm nóng giận có thông sáng lớn; Nhưng ai hay nóng nảy tôn lên sự điên cuồng.
30Poekhoih palung mah taksa to ngantuisak; toe uthaih mah loe huhong to hmawnsak.
30Lòng bình tịnh là sự sống của thân thể; Còn sự ghen ghét là đồ mục của xương cốt.
31Kamtang pacaekthlaek kami loe angmah Sahkung to ni pacaekthlaek; toe Sithaw khingya kami loe kamtang nuiah palungnathaih to tawnh.
31Kẻ hà hiếp người nghèo khổ làm nhục Đấng Tạo hóa mình; Còn ai thương xót người bần cùng tôn trọng Ngài.
32Kasae kami loe a sethaih mah kraksak tathuk; toe katoeng kami loe duek naah doeh oephaih to tawnh.
32Kẻ ác bị đánh đổ trong sự gian ác mình; Nhưng kẻ công bình vẫn có nơi nương cậy, dầu trong khi chết.
33Palungha kami ih palung thungah palunghahaih to oh; toe kamthu ih palung thungah kaom hmuen loe amtueng phaeng.
33Sự khôn ngoan ở tại lòng người thông sáng; Còn điều ở trong lòng kẻ ngu muội được lộ ra.
34Toenghaih mah prae kaminawk to sangsak tahang; toe zaehaih loe kami boih kasaethuihaih ah oh.
34Sự công bình làm cho nước cao trọng; Song tội lỗi là sự hổ thẹn cho các dân tộc.
35Siangpahrang loe palungha tamna nuiah anghoe; toe azatsak thaih tamna loe angraeng to palungphuisak.
35Vua làm ơn cho tôi tớ nào ăn ở khôn sáng; Nhưng cơn thạnh nộ vua nổi nghịch cùng kẻ gây sự hổ thẹn.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.