Palungha Lok 30
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Jakeh capa Agur mah thuih ih, palunghahaih loknawk loe hae tiah oh; kami maeto mah, Ithiel, Ithiel hoi Ukal khaeah, taphong pae;
1Lời của A-gu-rơ, con trai Gia-kê, Châm ngôn mà người ấy nói ra cho Y-thi-ên và U-canh.
2kai loe minawk boih pongah poek ka ham kue, kami poekhaih to ka tawn ai.
2Quả thật ta là ngu muội hơn ai hết, Ta không có thông sáng bằng một người.
3Palunghahaih to kam tuk ai moe, ciimhaih kawng doeh ka panoek ai.
3Ta không học được sự khôn ngoan, Và chẳng có được sự tri thức của Đấng Thánh.
4Mi maw van ah daw tahang moe, long ah anghum tathuk? Azom pui ah takhi naeh kami loe mi maw? Mi maw kahni pongah tui tapawk vai? Long boenghaih ahmuennawk boih caksakkung loe mi maw? To tiah sahkung ih ahmin hoi a caa ih ahmin loe mi maw? Na thui thai tih maw?
4Ai đã lên trời, rồi lại xuống? Ai đã góp gió trong lòng tay mình? Ai đã bọc nước trong áo mình? Ai lập các giới hạn của đất? Danh người là chi, và tên con trai người là gì? Nếu ngươi biết, hãy nói đi.
5Sithaw ih lok loe ciim boih; anih loe angmah khae amha kaminawk boih hanah abuephaih ah oh.
5Các lời của Đức Chúa Trời đều đã thét luyện: Ngài là cái thuẫn đỡ cho người nương cậy nơi Ngài.
6Angraeng ih lok to patomh hmah, to tih ai nahaeloe anih mah na zoeh ueloe, na thuih ih amsawnlok to amtueng moeng tih.
6Chớ thêm chi vào các lời Ngài. E Ngài quở trách ngươi, và ngươi bị cầm nói dối chăng.
7Aw Angraeng, ka dueh ai naah nang sak pae hanah, hnik ih hmuen hnetto oh;
7Tôi có cầu Chúa hai điều; Xin chớ từ chối trước khi tôi thác:
8amsoem ai lok hoi amsawn lok hae kai khae hoiah na takhoe pae ving ah; amtanghaih hoi angraenghaih doeh na paek hmah; ni thokkruek caak khawt caaknaek to na paek ah:
8Xin dan xa khỏi tôi sự lường gạt và lời dối trá; Chớ cho tôi nghèo khổ, hoặc sự giàu sang; Hãy nuôi tôi đủ vật thực cần dùng,
9to tih ai ah pop hmoek ah ka tawnh nahaeloe, nang kang pahnet ving ueloe, Angraeng loe mi aa? tiah ka thui moeng tih; kam tang hmoek nahaeloe, ka paqu moeng ueloe, ka Sithaw ih ahmin to ka saesak moeng tih.
9E khi no đủ, tôi từ chối Chúa, Mà rằng: Đức Giê-hô-va là ai? Và lại kẻo e tôi bị nghèo khổ, ăn trộm cắp, Và làm ô danh của Đức Chúa Trời tôi chăng.
10Angmah ih angraeng khaeah tamna sethaih kawng to thui hmah, kasae na thuih nahaeloe nang to na pasoih ueloe, na nuiah zaehaih om moeng tih.
10Chớ phao vu kẻ tôi tớ cho chủ nó, E nó rủa sả ngươi, và ngươi mắc tội chăng.
11Ampa to kasae thui kami, amno tahamhoihaih paek ai kami to oh.
11Có một dòng dõi rủa sả cha mình, Cũng không chúc phước cho mẹ mình.
12Angmacae amhnonghaih to pasae ai ah, angmah mik ah kai loe ciim, tiah poekhaih tawn kami to oh.
12Có một dòng dõi tư tưởng mình thánh sạch, Song chưa được rửa sạch nhơ bẩn mình.
13Amoekhaih hoiah mikpadai kami, patoekhaih hoi minawk khen kami to oh.
13Có một dòng dõi bộ mặt kiêu hãnh thay, Mí mắt giương cao dường nào!
14Haa loe sumsen baktiah oh moe, long ah kaom kamtang hoi mithoenawk to paaeh hanah, toektaboe ahuh haita baktih kaom kami doeh oh.
14Có một dòng dõi nanh tợ gươm, Hàm răng như dao, Đặng cắn xé những người khó khăn khỏi đất, Và những kẻ nghèo khổ khỏi loài người.
15Taqawt loe canu hnetto tawnh; nihnik loe na paek ah, na paek ah, tiah hangh hoi. Amhah thai ai hmuen thumto oh, ue, khawt boeh, tiah thui vai ai hmuen palitonawk loe,
15Con đỉa có hai con gái, nói rằng: Hãy cho! hãy cho! Có ba sự chẳng hề no đủ, Và bốn điều chẳng nói rằng: Thôi, đủ!
16taprong, caa kak nongpata ih zok, tui amhah thai ai long karoem; zetto mah tiah thui vai ai hmai.
16Tức là âm phủ, người đàn bà son sẻ, Đất không no đủ nước, Và lửa mà chẳng hề nói: Đủ rồi!
17Ampa pahnui thuih moe, amno patoek kami loe, azawn ih pangaahnawk mah anih ih mik to taprok pae ueloe, tahmunawk mah a ngan to caa o tih.
17Con mắt nhạo báng cha mình, Khinh sự vâng lời đối với mẹ mình, Các con quạ của trũng sẽ móc mắt ấy, Và các chim ưng con sẽ ăn nó đi.
18Ka dawnrai ih hmuen thumto khue ai ah, ka panoek thai ai ih hmuen palitonawk loe,
18Có ba việc lấy làm diệu kỳ cho ta, Và bốn điều mà ta chẳng biết được:
19van ih tahmu azawkhaih loklam, cathaeng nui ih pahui caehhaih loklam, tuipui thung ih palongpui caehhaih loklam, thendoeng mah tangla paqaihaih loklam hae ni.
19Là đường chim ưng bay trên trời; Lối con rắn bò trên hòn đá; Lằn tàu chạy giữa biển, Và đường người nam giao hợp với người nữ.
20Sava nuiah oep om ai nongpata caehhaih loklam doeh to tiah oh; to nongpata loe buh to caak moe, pakha a huk pacoengah, kai loe hmuen sakpazaehaih ka tawn ai, tiah thuih.
20Tánh nết người kỵ nữ cũng vậy: Nàng ăn, rồi nàng lau miệng, Và nói rằng: Tôi có phạm tội ác đâu.
21Long tasoehsak hmuen thumto khue ai ah, pauep thai ai ih hmuen palitonawk loe,
21Có ba vật làm cho trái đất rúng động, Và bốn điều, nó chẳng chịu nổi được:
22siangpahrang ah kangcoeng tamna, caaknaek tawn mangh kamthu;
22Là tôi tớ khi được tức vị vua; Kẻ ngu muội khi được no nê đồ ăn;
23amram aak nongpata sava sakhaih hoi tamna nongpata mah angraeng ih qawktoephaih hae ni.
23Người đàn bà đáng ghét khi lấy chồng, Và con đòi khi kế nghiệp bà chủ mình.
24Long nuiah tetta ah ni oh, toe paroeai palungha hmuen palitonawk loe,
24Có bốn vật nhỏ mọn trên trái đất, Song vốn rất khôn ngoan:
25thacak ai, toe nipui tueah caaknaek patung thaih, cahmatnawk;
25Con kiến dầu là loại yếu hèn, Lo sắm sẵn vật thực mình trong mùa hạ;
26thacak ai, toe lungsong thungah tabu sah savehnawk;
26Con thỏ rừng dầu là loại không sức lực, Đóng cư sở mình trong hòn đá;
27siangpahrang tawn ai, toe nawnto hmabangah kacaeh pakhunawk;
27Loài cào cào dầu không có vua chúa, Bay ra có từng đám;
28angmah ih ban hoiah angdoet, toe siangpahrang im ah ohhaih ahmuen katawn caneknawk cae hae ni.
28Con thằn lằn mà người ta lấy tay bắt được, Vẫn ở trong đền vua.
29Kahoih ah kacaeh thaih hmuen thumto khue ai, ue, kahoih ah kacaeh thaih hmuen palitonawk loe,
29Có ba vật điệu đi tốt đẹp, Và bốn vật nước bước xem sang trọng:
30kasan moinawk thungah thacak koek, kawbaktih hmuen om cadoeh hnuk angnawk taak ai kaipui;
30Sư tử, mạnh hơn hết trong các loài vật, Chẳng lui lại trước mặt loài nào cả;
31misatukhaih hrang, maeh tae hoi misa tawn ai siangpahrang cae hae ni.
31Con ngựa hăng thắng tử tế, con dê đực, Và vua không ai đối địch được.
32Kamthu ah nang coeng moe, nangmah hoi nangmah nam koeh naah maw, to tih ai boeh loe kahoih ai hmuen na poek naah maw, na pakha to tamuep khoep ah!
32Nếu ngươi có làm ngu dại mà tự cao kiêu ngạo, Và nếu ngươi có ác tưởng, hãy đặt tay che miệng mình.
33Maitaw tahnutui loe ahaeh khing nahaeloe, amkhawk tih, hnah doeh na hnoih khing nahaeloe, athii long tih; to baktih toengah palungphui hanah pahrue khing nahaeloe, angzoehhaih to om tih.
33Vì ép sữa làm ra mỡ sữa, Và đánh đập lỗ mũi bèn làm cho phun máu; Cũng vậy trêu chọn giận sanh ra điều tranh cạnh.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.