Proverbs 25
JPS Tanakh (Jewish Publication Society, 1917)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1These also are proverbs of Solomon, which the men of Hezekiah king of Judah copied out.
1Đây cũng là những châm ngôn của Sa-lô-môn, mà các người của Ê-xê-chia, vua Giu-đa sao tả.
2It is the glory of God to conceal a thing; but the glory of kings is to search out a matter.
2Giấu kín việc nào, ấy là vinh hiển của Đức Chúa Trời; Nhưng dò xét điều nào, ấy là vinh hiển của các vua.
3The heaven for height, and the earth for depth, and the heart of kings is unsearchable.
3Người ta không thể dò biết bề cao của từng trời, Bề sâu của đất, hay là lòng của các vua.
4Take away the dross from the silver, and there cometh forth a vessel for the refiner;
4Hãy lấy cặn bã khỏi bạc, Thì thợ bạc liền được một khí dụng;
5Take away the wicked from before the king, and his throne shall be established in righteousness.
5Hãy trừ kẻ ác khỏi trước mặt vua, Thì ngôi người sẽ nhờ công bình được lập bền vững.
6Glorify not thyself in the presence of the king, and stand not in the place of great men;
6Chớ phô mình trước mặt vua, Và đừng ngồi tại chỗ của người cao trọng.
7For better is it that it be said unto thee: 'Come up hither', than that thou shouldest be put lower in the presence of the prince, whom thine eyes have seen.
7Vì thà người ta nói cùng con rằng: Hãy lên đây, Hơn là người ta hạ con xuống trước mặt vua chúa, mà mắt con đã thấy.
8Go not forth hastily to strive, lest thou know not what to do in the end thereof, when thy neighbour hath put thee to shame.
8Chớ vội gây ra điều tranh tụng, E rốt cuộc khi kẻ lân cận con đã làm con hổ thẹn, Con sẽ chẳng biết làm chi.
9Debate thy cause with thy neighbour, but reveal not the secret of another;
9Hãy đối nại duyên cớ con với chính kẻ lân cận con, Song chớ tỏ sự kín đáo của kẻ khác;
10Lest he that heareth it revile thee, and thine infamy turn not away.
10E khi người nghe điều ấy sẽ trách con, Và sự sỉ nhục con không hề bôi hết chăng.
11A word fitly spoken is like apples of gold in settings of silver.
11Lời nói phải thì, Khác nào trái bình bát bằng vàng có cẩn bạc.
12As an ear-ring of gold, and an ornament of fine gold, so is a wise reprover upon an obedient ear.
12Người khôn ngoan quở trách lỗ tai hay nghe, Khác nào một cái vòng vàng, một đồ trang sức bằng vàng ròng vậy.
13As the cold of snow in the time of harvest, so is a faithful messenger to him that sendeth him; for he refresheth the soul of his master.
13Sứ giả trung tín với người sai đi, Giống như tuyết mát mẻ trong ngày mùa gặt; Vì người bổ sức linh hồn của chủ mình.
14As vapours and wind without rain, so is he that boasteth himself of a false gift.
14Kẻ nào tự khoe khoang giả dối về lễ vật mình, Tợ như có mây có gió, mà không mưa.
15By long forbearing is a ruler persuaded, and a soft tongue breaketh the bone.
15Hằng chậm nóng giận mới khuyên được lòng của quan trưởng; Còn lưỡi mềm dịu bẻ gãy các xương.
16Hast thou found honey? eat so much as is sufficient for thee, lest thou be filled therewith, and vomit it.
16Nếu con tìm được mật, hãy ăn vừa phải, Kẻo khi ăn no chán, con mửa ra chăng.
17Let thy foot be seldom in thy neighbour's house; lest he be sated with thee, and hate thee.
17Chớ năng bước chân đến nhà kẻ lân cận con, E người chán con, và trở lòng ghét con chăng.
18As a maul, and a sword, and a sharp arrow, so is a man that beareth false witness against his neighbour.
18Kẻ nào đối chứng giả dối cho người lân cận mình, Khác nào một cái búa, một cây gươm, một mũi tên nhọn.
19Confidence in an unfaithful man in time of trouble is like a broken tooth, and a foot out of joint.
19Tin cậy kẻ bất trung trong ngày hoạn nạn, Giống như răng bị gãy bể, tỉ như chân trẹo đi.
20As one that taketh off a garment in cold weather, and as vinegar upon nitre, so is he that singeth songs to a heavy heart.
20Ai hát cho lòng buồn thảm nghe, Khác nào kẻ lột áo mình khi ngày lạnh, Và như giấm đổ trên diêm tiêu vậy.
21If thine enemy be hungry, give him bread to eat, and if he be thirsty, give him water to drink;
21Nếu kẻ thù nghịch con có đói, hãy cho nó ăn; Nếu có khát, hãy cho nó uống;
22For thou wilt heap coals of fire upon his head, and the LORD will reward thee.
22Vì như vậy con chất than cháy đỏ trên đầu nó, Và Đức Giê-hô-va sẽ báo lại cho con.
23The north wind bringeth forth rain, and a backbiting tongue an angry countenance.
23Gió bắc sanh ra mưa; Còn lưỡi nói hành cách kín đáo gây cho mặt mày giận dữ.
24It is better to dwell in a corner of the housetop, than in a house in common with a contentious woman.
24Thà ở một góc trên mái nhà, Hơn là ở chung nhà với người đàn bà hay tranh cạnh.
25As cold waters to a faint soul, so is good news from a far country.
25Tin Lành ở xứ xa đến, Giống như nước mát mẻ cho người khát khao.
26As a troubled fountain, and a corrupted spring, so is a righteous man that giveth way before the wicked.
26Người công bình xiêu tó trước mặt kẻ gian ác, Khác nào một suối nước bị dấy đục, một nguồn nước bị hư.
27It is not good to eat much honey; so for men to search out their own glory is not glory.
27Aên mật nhiều quá lấy làm chẳng tốt; Và cầu kiếm vinh hiển cho mình ấy gây sự tổn hại.
28Like a city broken down and without a wall, so is he whose spirit is without restraint.
28Người nào chẳng chế trị lòng mình, Khác nào một cái thành hư nát, không có vách ngăn.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.