Proverbs 20
JPS Tanakh (Jewish Publication Society, 1917)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Wine is a mocker, strong drink is riotous; and whosoever reeleth thereby is not wise.
1Rượu khiến người ta nhạo báng, đồ uống say làm cho hỗn hào; Phàm ai dùng nó quá độ, chẳng phải là khôn ngoan.
2The terror of a king is as the roaring of a lion: he that provoketh him to anger forfeiteth his life.
2Sự oai khiếp của vua giống như sư tử gầm hét; Ai chọc giận người ắt phạm đến mạng sống mình.
3It is an honour for a man to keep aloof from strife; but every fool will be snarling.
3Người nào giữ mình khỏi tranh cạnh, ấy là sự tôn vinh của người; Chỉ kẻ điên cuồng sa vào đó mà thôi.
4The sluggard will not plow when winter setteth in; therefore he shall beg in harvest, and have nothing.
4Vì có mùa đông kẻ biếng nhác chẳng cày ruộng; Qua mùa gặt nó sẽ xin ăn, nhưng chẳng được gì hết.
5Counsel in the heart of man is like deep water; but a man of understanding will draw it out.
5Mưu kế trong lòng người ta như nước sâu; Người thông sáng sẽ múc lấy tại đó.
6Most men will proclaim every one his own goodness; but a faithful man who can find?
6Phần nhiều người khoe khoang sự nhân từ mình; Nhưng ai sẽ tìm được một người trung thành?
7He that walketh in his integrity as a just man, happy are his children after him.
7Người công bình ăn ở cách thanh liêm; Những con cháu người lấy làm có phước thay!
8A king that sitteth on the throne of judgment scattereth away all evil with his eyes.
8Vua ngồi trên ngôi xét đoán, Lấy mặt mình đánh tan các điều ác.
9Who can say: 'I have made my heart clean, I am pure from my sin'?
9Ai có thể nói: Ta đã luyện sạch lòng mình, Ta đã trong sạch tội ta rồi?
10Divers weights, and divers measures, both of them alike are an abomination to the LORD.
10Hai thứ trái cân, và hai thứ lường, Cả hai đều gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va.
11Even a child is known by his doings, whether his work be pure, and whether it be right.
11Công việc con trẻ làm, hoặc trong sạch hoặc chánh đáng, Cũng đều tỏ bản tánh nó ra.
12The hearing ear, and the seeing eye, the LORD hath made even both of them.
12Tai để nghe, mắt để thấy, Đức Giê-hô-va đã làm ra cả hai.
13Love not sleep, lest thou come to poverty; open thine eyes, and thou shalt have bread in plenty.
13Chớ ưa ngủ, e cho người trở nên nghèo khổ chăng; Hãy mở mắt ra, thì sẽ được no nê bánh.
14'It is bad, it is bad', saith the buyer; but when he is gone his way, then he boasteth.
14Kẻ mua nói rằng: Không tốt, không tốt! Đoạn đi, và tự khoe khoang mình.
15There is gold, and a multitude of rubies; but the lips of knowledge are a precious jewel.
15Có vàng và nhiều châu ngọc; Song miệng có tri thức là bửu vật quí giá.
16Take his garment that is surety for a stranger; and hold him in pledge that is surety for an alien woman.
16Hãy cầm lấy áo hắn, vì hắn có bảo lãnh cho người khác; Hãy buộc họ một của cầm, bởi họ đáp thế cho người đàn bà lạ.
17Bread of falsehood is sweet to a man; but afterwards his mouth shall be filled with gravel.
17Bánh nhờ dối gạt mà được lấy làm ngon ngọt cho người; Nhưng kế sau miệng người đầy sạn.
18Every purpose is established by counsel; and with good advice carry on war.
18Nhờ bàn luận, các mưu kế được định vững vàng; Hãy đánh giặc cách khôn khéo.
19He that goeth about as a talebearer revealeth secrets; therefore meddle not with him that openeth wide his lips.
19Kẻ nào đi thèo lẻo bầy tỏ điều kín đáo; Vậy, chớ giao thông với kẻ hay hở môi quá.
20Whoso curseth his father or his mother, his lamp shall be put out in the blackest darkness.
20Ngọn đèn của kẻ rủa cha mẹ mình Sẽ tắt giữa vùng tăm tối mờ mịt.
21An estate may be gotten hastily at the beginning; but the end thereof shall not be blessed.
21Sản nghiệp mình được vội vã lúc ban đầu, Và cuối cùng sẽ chẳng đặng phước.
22Say not thou: 'I will requite evil'; wait for the LORD, and He will save thee.
22Chớ nói: Ta sẽ trả ác. Hãy chờ đợi Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ cứu rỗi con.
23Divers weights are an abomination to the LORD; and a false balance is not good.
23Trái cân hai thứ lấy làm gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va; Và cây cân giả nào phải vật tốt lành.
24A man's goings are of the LORD; how then can man look to his way?
24Các bước của loài người do nơi Đức Giê-hô-va nhất định; Vậy, loài người hiểu đường lối mình sao được?
25It is a snare to a man rashly to say: 'Holy', and after vows to make inquiry.
25Nói cách hớp tớp rằng: Vật nầy là vật thánh! Và sau khi đã khấn nguyện rồi mới suy xét đến, ấy quả một cái bẫy cho người ta.
26A wise king sifteth the wicked, and turneth the wheel over them.
26Vua khôn ngoan làm tan kẻ ác, Và khiến bánh xe lăn cán chúng nó.
27The spirit of man is the lamp of the LORD, searching all the inward parts.
27Linh tánh loài người vốn một ngọn đèn của Đức Giê-hô-va, Dò thấu các nơi ẩn bí của lòng.
28Mercy and truth preserve the king; and his throne is upheld by mercy.
28Sự nhân từ và chân thật bảo hộ vua; Người lấy lòng nhân từ mà nâng đỡ ngôi nước mình.
29The glory of young men is their strength; and the beauty of old men is the hoary head.
29Sức lực của gã trai trẻ là vinh hiển của người; Còn tóc bạc là sự tôn trọng của ông già.
30Sharp wounds cleanse away evil; so do stripes that reach the inward parts.
30Những thương tích và dấu vít làm cho sạch điều ác, Và roi vọt thấm vào nơi kín đáo của lòng.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.