Proverbes 24
Louis Segond 1910Translation
Louis Segond 1910
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ne porte pas envie aux hommes méchants, Et ne désire pas être avec eux;
1Chớ ganh ghét kẻ làm ác. Đừng ước ao ở cùng chúng nó.
2Car leur cœur médite la ruine, Et leurs lèvres parlent d’iniquité.
2Vì lòng chúng nó toan điều hủy phá, Và môi họ nói ra sự tổn hại.
3C’est par la sagesse qu’une maison s’élève, Et par l’intelligence qu’elle s’affermit;
3Nhờ sự khôn ngoan, cửa nhà được xây cất nên, Và được vững vàng bởi sự thông sáng;
4C’est par la science que les chambres se remplissent De tous les biens précieux et agréables.
4Nhờ sự tri thức, các phòng vi đều được đầy đủ Các thứ tài vật quí báu và đẹp đẽ.
5Un homme sage est plein de force, Et celui qui a de la science affermit sa vigueur;
5Người khôn ngoan có sức mạnh, Và người tri thức gia thêm năng lực.
6Car tu feras la guerre avec prudence, Et le salut est dans le grand nombre des conseillers.
6Vì con phải nhờ mưu khôn mà đánh giặc; Đâu có nhiều mưu sĩ thì đặng toàn thắng.
7La sagesse est trop élevée pour l’insensé; Il n’ouvrira pas la bouche à la porte.
7Sự khôn ngoan lấy làm cao xa quá cho kẻ ngu dại; Nó không mở miệng ra nơi cửa thành.
8Celui qui médite de faire le mal S’appelle un homme plein de malice.
8Kẻ nào toan làm điều ác, Người ta sẽ gọi hắn là kẻ gian giảo.
9La pensée de la folie n’est que péché, Et le moqueur est en abomination parmi les hommes.
9Tư tưởng ngu dại là tội lỗi; Kẻ nhạo báng lấy làm gớm ghiếc cho loài người.
10Si tu faiblis au jour de la détresse, Ta force n’est que détresse.
10Nếu con ngã lòng trong ngày hoạn nạn, Thì sức lực con nhỏ mọn thay.
11Délivre ceux qu’on traîne à la mort, Ceux qu’on va égorger, sauve-les!
11Hãy giải cứu kẻ bị đùa đến sự chết, Và chớ chối rỗi cho người đi xiêu tó tới chốn hình khổ.
12Si tu dis: Ah! Nous ne savions pas!… Celui qui pèse les cœurs ne le voit-il pas? Celui qui veille sur ton âme ne le connaît-il pas? Et ne rendra-t-il pas à chacun selon ses œuvres?
12Nếu con nói: Chúng tôi chẳng biết gì đến; Thì Đấng mà cân nhắc lòng người ta, há chẳng xem xét điều ấy sao? Và Đấng gìn giữ linh hồn con, há không biết đến ư? Chớ thì Ngài sẽ chẳng báo mỗi người tùy theo công việc họ làm sao?
13Mon fils, mange du miel, car il est bon; Un rayon de miel sera doux à ton palais.
13Hỡi con, hãy ăn mật, vì nó ngon lành; Tàng ong lấy làm ngọt ngào cho ổ gà con.
14De même, connais la sagesse pour ton âme; Si tu la trouves, il est un avenir, Et ton espérance ne sera pas anéantie.
14Con sẽ biết sự khôn ngoan nơi linh hồn con cũng như vậy; Nếu con đã tìm được sự khôn ngoan, ắt sẽ có phần thưởng, Và sự trông đợi của con sẽ chẳng phải thành luống công.
15Ne tends pas méchamment des embûches à la demeure du juste, Et ne dévaste pas le lieu où il repose;
15Hỡi kẻ ác, chớ rình rập nhà người công bình; Đừng phá tan chỗ nghĩ ngơi của người.
16Car sept fois le juste tombe, et il se relève, Mais les méchants sont précipités dans le malheur.
16Vì người công bình dầu sa ngã bảy lần, cũng chổi dậy; Còn kẻ hung ác bị tai vạ đánh đổ.
17Ne te réjouis pas de la chute de ton ennemi, Et que ton cœur ne soit pas dans l’allégresse quand il chancelle,
17Khi kẻ thù nghịch con sa ngã, chớ vui mừng; Lúc nó bị đánh đổ, lòng con đừng hớn hở;
18De peur que l’Éternel ne le voie, que cela ne lui déplaise, Et qu’il ne détourne de lui sa colère.
18Kẻo e Đức Giê-hô-va thấy điều đó, mà chẳng đẹp lòng, Bèn cất cơn thạnh nộ Ngài khỏi nó chăng.
19Ne t’irrite pas à cause de ceux qui font le mal, Ne porte pas envie aux méchants;
19Chớ nổi giận vì cớ kẻ làm ác, Cũng đừng ganh ghét những người hung dữ;
20Car il n’y a point d’avenir pour celui qui fait le mal, La lampe des méchants s’éteint.
20Vì kẻ làm gian ác sẽ không được thiện báo, Và đèn kẻ hung dữ sẽ tắt đi.
21Mon fils, crains l’Éternel et le roi; Ne te mêle pas avec les hommes remuants;
21Hỡi con, hãy kính sợ Đức Giê-hô-va và tôn kính vua; Chớ hội hiệp cùng kẻ phản nghịch;
22Car soudain leur ruine surgira, Et qui connaît les châtiments des uns et des autres?
22Vì sự tai họa của chúng xảy đến thình lình; Và ai biết sự phá hại của người nầy người kia?
23Voici encore ce qui vient des sages: Il n’est pas bon, dans les jugements, d’avoir égard aux personnes.
23Những ngôn ngữ nầy cũng do kẻ khôn ngoan mà đến: Trong việc xét đoán tư vị người, ấy chẳng phải tốt lành.
24Celui qui dit au méchant: Tu es juste! Les peuples le maudissent, les nations le maudissent.
24Kẻ nào nói với kẻ ác rằng: Ngươi là công bình, Sẽ bị dân tộc rủa sả, và các nước lấy làm gớm ghiếc mình;
25Mais ceux qui le châtient s’en trouvent bien, Et le bonheur vient sur eux comme une bénédiction.
25Còn người nào quở trách kẻ ác ắt sẽ được đẹp lòng, Và sự phước lành sẽ giáng trên họ.
26Il baise les lèvres, Celui qui répond des paroles justes.
26Ai đáp lời chánh đáng, Tất như hôn nơi môi miệng vậy.
27Soigne tes affaires au-dehors, Mets ton champ en état, Puis tu bâtiras ta maison.
27Hãy sửa sang công việc ở ngoài của con, Và sắm sẵn tại trong ruộng con; Rồi sau hãy cất nhà của con.
28Ne témoigne pas à la légère contre ton prochain; Voudrais-tu tromper par tes lèvres?
28Chớ làm chứng vô cớ nghịch kẻ lân cận mình; Con há muốn lấy môi miệng mình mà phỉnh gạt sao?
29Ne dis pas: Je lui ferai comme il m’a fait, Je rendrai à chacun selon ses œuvres.
29Chớ nên nói: Tôi sẽ làm cho hắn như hắn đã làm cho tôi; Tôi sẽ báo người tùy công việc của người.
30J’ai passé près du champ d’un paresseux, Et près de la vigne d’un homme dépourvu de sens.
30Ta có đi ngang qua gần ruộng kẻ biếng nhác, Và gần vườn nho của kẻ ngu muội,
31Et voici, les épines y croissaient partout, Les ronces en couvraient la face, Et le mur de pierres était écroulé.
31Thấy cây tật lê mọc khắp cùng, Gai góc che khuất mặt đất, Và tường đá của nó đã phá hư rồi
32J’ai regardé attentivement, Et j’ai tiré instruction de ce que j’ai vu.
32Ta nhìn xem, bèn để ý vào đó; Ta thấy và nhận được sự dạy dỗ.
33Un peu de sommeil, un peu d’assoupissement, Un peu croiser les mains pour dormir!…
33Ngủ một chút, chợp mắt một chút, Khoanh tay ngủ một chút,
34Et la pauvreté te surprendra, comme un rôdeur, Et la disette, comme un homme en armes.
34Thì sự nghèo của con sẽ đến như một kẻ đi rạo, Và sự thiếu thốn của con áp tới như một kẻ cầm binh khí.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.