Еремії
Chapter 17
Kulish and Puluj Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Еремії 17

Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Гріх Юдин виписаний залїзним різцем, алмазним зубцем, вирізаний на таблицї серця в них та на рогах у жертівниках їх.
1Tội của Giu-đa đã chép bằng bút sắt, bằng dùi kim cương; đã chạm trên bảng trong lòng chúng nó, và trên sừng những bàn thờ các ngươi.
2Мов про свої сини, згадують вони про жертівники свої, і дуброви свої та зелені дерева по горбах високих.
2Con cái chúng nó nhớ lại bàn thờ và hình tượng chúng nó đã lập lên gần các cây xanh và trên gò cao.
3Ой оддам же я гору твою в полі, твоє майно, усї твої скарби на луп, і всї висоти твої — за гріхи в усїх межах твоїх!
3Hỡi hòn núi ta trong đồng, ta sẽ phó của cải, châu báu và các nơi cao ngươi làm của cướp; vì cớ tội lỗi ngươi đã phạm trên khắp bờ cõi mình.
4І ти сама лишишся без наслїддя твого, що я надїлив тобі, й віддам тебе в неволю ворогам твоїм у землю, що її не знаєш, бо ви розпалили огонь гнїву мого; він горіти ме невгасимо.
4Ngươi sẽ bỏ mất cơ nghiệp ta đã ban cho, ấy là tự ngươi làm lấy; ta sẽ bắt ngươi phục kẻ thù ngươi trong một xứ mà ngươi chưa từng biết; vì ngươi đã nhen lửa giận ta lên, thì nó cháy hoài hoài.
5Так говорить Господь: Проклята людина, що вповає на людей, і робить тїло опорою своєю, а серце її цурається Господа.
5Đức Giê-hô-va phán như vầy: Đáng rủa thay là kẻ nhờ cậy loài người, lấy loài xác thịt làm cánh tay, lòng lìa khỏi Đức Giê-hô-va.
6Вона буде, як билина в степу, й не діжде собі добра; жити ме на сухих місцях у пустинї, на землї солоній, безлюдній.
6Nó sẽ như thạch thảo trong sa mạc, không thấy phước đến, nhưng ở trong nơi đồng vắng khô khan, trên đất mặn không dân ở.
7Благословен чоловік, що вповає на Господа, що його надїєю Господь.
7Đáng chúc phước thay là kẻ nhờ cậy Đức Giê-hô-va, và lấy Đức Giê-hô-va làm sự trông cậy mình.
8Він — мов те дерево, посаджене над водою, що простягає своє коріннє до потока: Не боїться воно жари, листє його зеленїє; байдужне воно й під сухолїттє; не перестає родити нїколи.
8Nó cũng như cây trồng nơi bờ suối, đâm rễ theo dòng nước chảy; ngộ khi trời nắng, chẳng hề sợ hãi, mà lá cứ xanh tươi. Gặp năm hạn hán cũng chẳng lo gì, mà cứ ra trái không dứt.
9Лукаве над усе в сьвітї серце людське й ледаче; хто його зміркує?
9Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được?
10Я, Господь, я тілько зазираю в серце, вивідую нутро, щоб відплачувати кожному по його ходах, по плодам учинків його.
10Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm.
11Мов та куропатва, що висиджує яйця чужі, що їх не знесла, так і той, хто придбав достаток, та не на правій дорозї. У половинї віку свого втеряє його, і при концї свойму покажеться дурним.
11Kẻ nào được giàu có chẳng theo sự công bình, cũng như chim đa đa ấp trứng mà mình chẳng đẻ ra; đến nửa đời người, nó phải mất hết, cuối cùng nó ra là ngu dại.
12О, місцем нашого осьвящення є престол слави, вознесений з давен давнезних!
12Ngôi vinh hiển được lập lên từ ban đầu, ấy là nơi thánh của dân chúng ta!
13Ти один, Господи — надїя Ізрайлева; всї, що тебе покинули, посоромляться. Всї, що відступають од тебе, будуть на піску написані, за те, що покинули жилу води живої — Господа.
13Hỡi Đức Giê-hô-va, là sự trông cậy của Y-sơ-ra-ên, những kẻ nào bỏ Ngài đều sẽ bị xấu hổ! Những kẻ lìa khỏi ta sẽ bị ghi trên đất, vì họ đã bỏ suối nước sống, tức là Đức Giê-hô-va.
14Оздоров же мене, Господи, так я й одужаю; спаси мене, а я спасен буду; ти бо хвала моя.
14Hỡi Đức Giê-hô-va! xin Ngài chữa tôi thì tôi sẽ được lành; xin Ngài cứu tôi thì tôi sẽ được rỗi: vì Ngài là Đấng mà tôi ngợi khen.
15Ось, вони менї говорять: Де воно, те слово Господнє? нехай станеться!
15Nầy là lời người ta bảo tôi: Lời phán của Đức Giê-hô-va ở đâu? Rày hãy ứng nghiệm!
16Я ж не квапився бути пастирем у тебе й не бажав лихої години, — ти се знаєш. Що мої уста вимовили, те лежить перед лицем твоїм.
16Còn tôi, tôi chẳng vội vàng bỏ chức chăn dân mà không theo Ngài. Tôi cũng không tự ý muốn mình trông đến ngày khốn nạn, Ngài vẫn biết vậy. Lời miệng tôi nói ra điều ở trước mặt Ngài.
17Ой не дай же менї жахатись тебе! ти втечище моє при лихій годинї.
17Ngài là nơi ẩn náu của tôi trong ngày hoạn nạn, xin chớ làm cớ cho tôi kinh khiếp!
18Нехай посоромляться гонителї мої, менї ж не дай постидатись; нехай вони задрожать, менї ж не дай лякатись; наведи на них лихолїттє й побий їх тяжким побоєм.
18Xin Ngài làm cho những kẻ bắt bớ tôi bị xấu hổ, mà chính tôi đừng bị xấu hổ; cho họ kinh hoàng, mà chính tôi đừng kinh hoàng! Xin cho ngày hoạn nạn lâm trên họ, và hủy hoại gấp hai!
19І сказав менї Господь так: Ійди й стань у воротах синів народу, що ними царі Юдейські входять і виходять, і у всїх воротах Ерусалимських,
19Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hãy đi, đứng tại cửa của con cái dân sự, tức là cửa các vua Giu-đa thường ra vào, và tại hết thảy các cửa thành Giê-ru-sa-lem.
20І промов до них: Слухайте слово Господнє, царі Юдейські, й ви, всї Юдеї, вкупі з усїма осадниками Ерусалимськими, що ввіходите сими ворітьми!
20Ngươi khá nói rằng: Hỡi các vua nước Giu-đa, cùng cả dân Giu-đa, và hết thảy dân cư Giê-ru-sa-lem, là kẻ do các cửa nầy qua lại, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va.
21Так говорить Господь: Стережіть ваші душі, не носїть субітнього дня нїяких тягарів, і не вносїте їх ворітьми Ерусалимськими,
21Đức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi hãy giữ, chớ khiêng gánh trong ngày sa-bát; chớ khiêng gánh vào cửa thành Giê-ru-sa-lem.
22І не виносїте так само субітнього дня нїякого тягару з домівок ваших, і не робіть нїякого дїла, а сьвяткуйте день субітний, як се я заповідав отцям вашим,
22Trong ngày sa-bát, đừng khiêng gánh ra khỏi nhà các ngươi, cũng đừng làm việc chi hết; nhưng hãy biệt riêng ngày sa-bát ra thánh, như ta đã phán dặn tổ phụ các ngươi.
23Хоч, правда, вони не слухали, й не прихиляли уха свого, а показали себе тугошийими, щоб не слухати й не приймати науки.
23Nhưng mà, họ chẳng nghe, chẳng lắng tai; cứng cổ để chẳng nghe ta và chẳng chịu dạy.
24Коли ж ви послухаєте мене в сьому, говорить Господь, щоб субітнього дня не носити нїякого тягару воротами сього міста, та щоб сьвяткувати суботу, так щоб нїякого дїла того дня не робити,
24Đức Giê-hô-va phán: Nếu các ngươi chăm chỉ nghe ta, nếu các ngươi không khiêng gánh vào cửa thành ấy trong ngày sa-bát, nếu các ngươi biệt riêng ngày sa-bát ra thánh và không làm việc gì trong ngày đó,
25Так ворітьми сього міста входити муть царі й князї, що сидять на Давидовому престолї, що їздити муть колесницями й кіньми, вони й князї їх, Юдеї й осадники Ерусалимські, й город сей буде люден повсячасно.
25thì các vua và các quan trưởng ngồi trên ngai Đa-vít sẽ cỡi xe cỡi ngựa, cùng với các quan trưởng người Giu-đa, và dân cư Giê-ru-sa-lem do cửa thành ấy mà vào; và thành ấy sẽ còn đời đời.
26І приходити муть із городів Юдиних і з околиць Ерусалимських, і з землї Беняминової, і з поділля, і з гір, і з полудня, та й приносити муть усепалення й мирні жертви й жертви хлїбні й кадило у дом Господень.
26Người ta sẽ đến từ các thành của Giu-đa và từ các nơi chung quanh Giê-ru-sa-lem, từ xứ Bên-gia-min, từ đất đồng bằng, đất núi, và phương Nam, đặng đem của lễ thiêu và các của lễ, của lễ chay cùng nhũ hương, và đem của lễ thù ân đến nhà Đức Giê-hô-va.
27Коли ж не послухаєте мене в тому, щоб держати субітній день сьвято й нїякого тягару не носити, входючи в ворота Ерусалимські, то я запалю огонь в воротях його, й пожере він палати в Ерусалимі й не погасне.
27Nhưng nếu các ngươi không nghe ta để biệt riêng ngày sa-bát ra thánh, mà trong ngày sa-bát khiêng gánh và vào cửa thành Giê-ru-sa-lem, thì ta sẽ đặt lửa nơi cửa thành, lửa ấy sẽ thiêu hủy cung điện của Giê-ru-sa-lem, không bao giờ tắt.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.