Jeremiah 17
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Judah zaehaih loe sum cacung, diamond thlung kamsum hoiah tarik pae boeh, na hmaicam takiinawk nuiah tarik ih baktiah nihcae palung thungah tarik pae boeh;
1Tội của Giu-đa đã chép bằng bút sắt, bằng dùi kim cương; đã chạm trên bảng trong lòng chúng nó, và trên sừng những bàn thờ các ngươi.
2a caanawk mah doeh maesom nui ih kahing thingnawk taengah, angmacae ih hmaicamnawk to suek o moe, thing hoi sak o cop ih krangnawk to bok o.
2Con cái chúng nó nhớ lại bàn thờ và hình tượng chúng nó đã lập lên gần các cây xanh và trên gò cao.
3Aw kai ih mae, azawn ih hmuenmaenawk, na tawnh ih tacongnawk hoi na prae thungah zae sak haih hmuensangnawk boih to na misanawk ban ah ka paek han boeh.
3Hỡi hòn núi ta trong đồng, ta sẽ phó của cải, châu báu và các nơi cao ngươi làm của cướp; vì cớ tội lỗi ngươi đã phạm trên khắp bờ cõi mình.
4Kang paek ih qawk to na pathlong ving tih boeh; kadueh thai ai palung ka phuihaih hmai baktiah angqong hanah na sak pongah, na panoek ai ih prae ah na misanawk ih misong ah kang suek han.
4Ngươi sẽ bỏ mất cơ nghiệp ta đã ban cho, ấy là tự ngươi làm lấy; ta sẽ bắt ngươi phục kẻ thù ngươi trong một xứ mà ngươi chưa từng biết; vì ngươi đã nhen lửa giận ta lên, thì nó cháy hoài hoài.
5Angraeng mah hae tiah thuih; Angraeng khae hoi poek amkhraeng ving moe, minawk oep lat kami, taksa thacakhaih oep kami loe kasae tongh kami ah oh.
5Đức Giê-hô-va phán như vầy: Đáng rủa thay là kẻ nhờ cậy loài người, lấy loài xác thịt làm cánh tay, lòng lìa khỏi Đức Giê-hô-va.
6Anih loe long karoem ahmuen ih thing kazaek baktiah oh, khosak hoihaih hnu mak ai; anih loe kami om ai paloi long hoi praezaek ahmuen ah khosah tih.
6Nó sẽ như thạch thảo trong sa mạc, không thấy phước đến, nhưng ở trong nơi đồng vắng khô khan, trên đất mặn không dân ở.
7Toe Angraeng khaeah amha moe, anih oephaih tawn kami loe tahamhoih.
7Đáng chúc phước thay là kẻ nhờ cậy Đức Giê-hô-va, và lấy Đức Giê-hô-va làm sự trông cậy mình.
8Anih loe tui taengah thling moe, tuipui ah tangzun pakhrah, ni kana panoek ai, aqam kahing poe, khokha naah mawnhaih tawn ai, boeng ai ah kathai, thing baktiah om tih.
8Nó cũng như cây trồng nơi bờ suối, đâm rễ theo dòng nước chảy; ngộ khi trời nắng, chẳng hề sợ hãi, mà lá cứ xanh tươi. Gặp năm hạn hán cũng chẳng lo gì, mà cứ ra trái không dứt.
9Palung loe hmuennawk boih thungah aling thaih koek ah oh; poekhaih doeh set parai, mi mah maw anih to panoek thai tih?
9Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được?
10Kai, Angraeng loe kami boih a caeh o haih loklam baktih, a sak o ih hmuen baktih toengah paek hanah, poekhaih to ka khet moe, palungthin to ni ka caek.
10Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm.
11Toenghaih loklam hoi na ai ah hmuenmae pakrong pongah, angraeng kami loe acaa khaek thai mak ai, angmah ih tadui awh ai tavaa baktiah ni oh; a hinghaih saning ahap phak naah, minawk mah caeh o taak tih, anih amthuhaih loe hnukkhuem ah amtueng tih.
11Kẻ nào được giàu có chẳng theo sự công bình, cũng như chim đa đa ấp trứng mà mình chẳng đẻ ra; đến nửa đời người, nó phải mất hết, cuối cùng nó ra là ngu dại.
12Tangsuek hoi kaom lensawk kasang angraeng tangkhang loe, kaicae ih hmuenciim ah oh.
12Ngôi vinh hiển được lập lên từ ban đầu, ấy là nơi thánh của dân chúng ta!
13Aw Angraeng, Israel caanawk oephaih, Nang pahnawt kaminawk boih loe azathaih tong o tih; ka thuih ih lok angqoi taak kaminawk loe hinghaih tuibap ah kaom, Angraeng to pahnawt o ving pongah, long ah ahmin tarik o tih.
13Hỡi Đức Giê-hô-va, là sự trông cậy của Y-sơ-ra-ên, những kẻ nào bỏ Ngài đều sẽ bị xấu hổ! Những kẻ lìa khỏi ta sẽ bị ghi trên đất, vì họ đã bỏ suối nước sống, tức là Đức Giê-hô-va.
14Aw Angraeng, ka nathaih hae hoisak ah; to tih nahaeloe ngan ka tui tih boeh; na pahlong ah, to tih nahaeloe pahlong ah ka om tih, nang loe ka pakoehhaih ah na oh.
14Hỡi Đức Giê-hô-va! xin Ngài chữa tôi thì tôi sẽ được lành; xin Ngài cứu tôi thì tôi sẽ được rỗi: vì Ngài là Đấng mà tôi ngợi khen.
15Khenah, nihcae mah kai khaeah, Angraeng ih lok loe naa ah maw oh? Vaihi akoep lai nasoe, tiah ang naa o.
15Nầy là lời người ta bảo tôi: Lời phán của Đức Giê-hô-va ở đâu? Rày hãy ứng nghiệm!
16Kai loe nang hnuk ah kabang zaehoikung ah oh hanah kang aek ai; kai loe tahamsethaih ani koeh ai kami ah ka oh, tiah na panoek; ka pakha hoi tacawt lok loe na hmaa ah oh.
16Còn tôi, tôi chẳng vội vàng bỏ chức chăn dân mà không theo Ngài. Tôi cũng không tự ý muốn mình trông đến ngày khốn nạn, Ngài vẫn biết vậy. Lời miệng tôi nói ra điều ở trước mặt Ngài.
17Kai han zit koi hmuen ah om hmah; kam rohaih niah nang loe ka buephaih ah na oh.
17Ngài là nơi ẩn náu của tôi trong ngày hoạn nạn, xin chớ làm cớ cho tôi kinh khiếp!
18Kai pacaekthlaek kaminawk loe azathaih tong o nasoe, toe kai loe azathaih na tongsak hmah; nihcae to zithaih hoiah koisak ah, toe kai loe ziisak hmah; nihcae nuiah amrohaih ani to phasak ah loe, nihcae to alet hnetto amrohaih phasak ah.
18Xin Ngài làm cho những kẻ bắt bớ tôi bị xấu hổ, mà chính tôi đừng bị xấu hổ; cho họ kinh hoàng, mà chính tôi đừng kinh hoàng! Xin cho ngày hoạn nạn lâm trên họ, và hủy hoại gấp hai!
19Angraeng mah kai khaeah hae tiah thuih; Caeh ah loe, Judah siangpahrangnawk akunhaih hoi tacawthaih khongkha, nawktanawk ih khongkha hoi Jerusalem ih khongkhanawk boih ah angdoe ah,
19Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hãy đi, đứng tại cửa của con cái dân sự, tức là cửa các vua Giu-đa thường ra vào, và tại hết thảy các cửa thành Giê-ru-sa-lem.
20nihcae khaeah, Hae khongkha hoiah akun, Judah siangpahrangnawk, Judah kaminawk boih, Jerusalem ah kaom kaminawk boih, Angraeng ih lok hae tahngai oh;
20Ngươi khá nói rằng: Hỡi các vua nước Giu-đa, cùng cả dân Giu-đa, và hết thảy dân cư Giê-ru-sa-lem, là kẻ do các cửa nầy qua lại, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va.
21Angraeng mah hae tiah thuih; Sabbath niah kazit hmuen to phaw o hmah, Jerusalem khongkha thung hoiah kawbaktih hmuen doeh sin han ai ah, acoe oh:
21Đức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi hãy giữ, chớ khiêng gánh trong ngày sa-bát; chớ khiêng gánh vào cửa thành Giê-ru-sa-lem.
22Sabbath niah imthung hoi kazit hmuen to phaw o hmah, tok doeh sah o hmah, nam panawk khaeah ka thuih pae ih lok baktih toengah, Sabbath ni to kaciim ah zaa oh.
22Trong ngày sa-bát, đừng khiêng gánh ra khỏi nhà các ngươi, cũng đừng làm việc chi hết; nhưng hãy biệt riêng ngày sa-bát ra thánh, như ta đã phán dặn tổ phụ các ngươi.
23Toe nihcae mah tahngai o ai, naa doeh patueng o ai; a thaih o han ai, thuitaekhaih lok talawk o han ai ah, tahnong to amtaak o sak.
23Nhưng mà, họ chẳng nghe, chẳng lắng tai; cứng cổ để chẳng nghe ta và chẳng chịu dạy.
24Toe Angraeng mah hae tiah thuih; ka lok hae na tahngaih o moe, Sabbath niah hae khongkhanawk hoiah kazit hmuen na sin o ai, toksah ai ah Sabbath ni to kaciim ah na zah o nahaeloe,
24Đức Giê-hô-va phán: Nếu các ngươi chăm chỉ nghe ta, nếu các ngươi không khiêng gánh vào cửa thành ấy trong ngày sa-bát, nếu các ngươi biệt riêng ngày sa-bát ra thánh và không làm việc gì trong ngày đó,
25David ih angraeng tangkhang pongah anghnu, siangpahrang hoi siangpahrang capanawk, hrang lakok hoi hrang angthueng kaminawk, angmacae hoi angmacae ukkung angraengnawk, Judah kaminawk hoi Jerusalem ah kaom kaminawk loe, hae khongkhanawk hoiah akun o tih, hae vangpui doeh dungzan khoek to cak poe tih.
25thì các vua và các quan trưởng ngồi trên ngai Đa-vít sẽ cỡi xe cỡi ngựa, cùng với các quan trưởng người Giu-đa, và dân cư Giê-ru-sa-lem do cửa thành ấy mà vào; và thành ấy sẽ còn đời đời.
26Judah avang, Jerusalem taeng ih avang, Benjamin prae ih avang, tangtling ah kaom avang, mae nui hoi aloih bang prae ah kaom kaminawk loe Angraeng ih im ah angzo o tih. Nihcae loe angbawnhaih congca, hmai angbawnhaih, moi angbawnhaih, hmuihoih angbawnhaih, pakoeh angbawnhaih to sin o tih.
26Người ta sẽ đến từ các thành của Giu-đa và từ các nơi chung quanh Giê-ru-sa-lem, từ xứ Bên-gia-min, từ đất đồng bằng, đất núi, và phương Nam, đặng đem của lễ thiêu và các của lễ, của lễ chay cùng nhũ hương, và đem của lễ thù ân đến nhà Đức Giê-hô-va.
27Toe Sabbath niah hmuen phawh moe, Jerusalem khongkha ah akun pacoengah, Sabbath ni to kaciim ah zah han oh; ka paek ih lok to tahngai ai nahaeloe, to ih khongkhanawk to hmai hoiah ka thlaek han, kadueh thai ai hmai mah Jerusalem angraeng ohhaih ahmuennawk to kang boih tih, tiah Angraeng mah thuih.
27Nhưng nếu các ngươi không nghe ta để biệt riêng ngày sa-bát ra thánh, mà trong ngày sa-bát khiêng gánh và vào cửa thành Giê-ru-sa-lem, thì ta sẽ đặt lửa nơi cửa thành, lửa ấy sẽ thiêu hủy cung điện của Giê-ru-sa-lem, không bao giờ tắt.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.