Jeremiah
Chapter 52
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Zedekiah siangpahrang ah oh naah, saning pumphaeto oh boeh, anih mah saning hathlaito thung Jerusalem to uk. Amno ih ahmin loe Libnah vangpui ih Jeremiah canu Hamutal.
1Khi Sê-đê-kia lên làm vua, có hai mươi mốt tuổi; trị vì mười một năm tại thành Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Ha-mu-ta, con gái của Giê-rê-mi, người Líp-na.
2Jehoiakim mah Angraeng mikhnuk ah sak ih kahoih ai hmuennawk baktih toengah, anih mah doeh sak.
2Vua ấy làm điều dữ trước mắt Đức Giê-hô-va, như mọi việc vua Giê-hô-gia-kim đã làm.
3Jerusalem hoi Judah ih kaminawk angmah hmaa hoi va ving ai karoek to nihcae nuiah Angraeng palungphui. Hnukkhuem ah Zedekiah mah Babylon siangpahrang ih lok to aek.
3Vì cớ Đức Giê-hô-va nổi giận, thì điều đó xảy ra trong Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, cho đến Ngài ném bỏ chúng nó khỏi trước mặt mình. Sê-đê-kia dấy loạn nghịch cùng vua Ba-by-lôn.
4To pongah Zedekiah ukhaih saning takawtto haih, khrah hato hoi ni hato naah, Babylon siangpahrang Nebuchadnezzar loe Jerusalem tuk hanah, angmah ih misatuh kaminawk boih hoiah angzoh o, vangpui to takui o moe, misa buephaih long khaw to takaeh o.
4Ngày mồng mười, tháng mười, năm thứ chín đời vua Sê-đê-kia, thì Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đem cả đạo binh mình đi đánh Giê-ru-sa-lem, đóng trại nghịch cùng nó, và chúng nó lập đồn vây lấy.
5Zedekiah siangpahrang ah ohhaih saning hathlai karoek to nihcae mah vangpui to takui o.
5Thành bị vây mãi đến năm thứ mười một đời vua Sê-đê-kia.
6Khrah palito haih, ni takawtto naah loe vangpui thungah caaknaek kha parai moe, prae kaminawk buhcaak han tawn o ai.
6Ngày mồng chín tháng tư, trong thành bị đói kém lắm, đến nỗi dân của đất nầy không có bánh nữa.
7Khaldian kaminawk mah vangpui to muk o moe, takui o khoep pongah misatuh kaminawk loe aqum ah cawnh o king; vangpui tapang hnetto salak, siangpahrang takha taeng ih khongkha hoiah tacawt o moe, tangtling bangah a cawnh o.
7Vách thành bị phá vỡ, hết thảy những lính chiến bèn trốn ra khỏi thành lúc ban đêm, và do cửa ở giữa hai cái vách, gần vườn vua, mà đi ra; trong khi người Canh-đê đang vây thành, thì chúng nó chạy trốn hướng về A-ra-ba.
8Toe Khaldian misatuh kaminawk mah siangpahrang Zedekiah to patom o moe, Jeriko azawn ah kae o; to naah anih ih misatuh kaminawk loe cawnh o king.
8Nhưng đạo binh của người Canh-đê đuổi theo vua; khi đã đuổi kịp Sê-đê-kia tại đồng bằng Giê-ri-cô, thì quân vua chạy tan và bỏ vua lại.
9Siangpahrang to naeh o moe, Hamath prae ih Riblah ah, Babylon siangpahrang khaeah hoih o; to ah anih to lokcaek o.
9Người Canh-đê bắt vua và dẫn đến cùng vua Ba-by-lôn, tại Ríp-la, trong đất Ha-mát, nơi đó vua bị vua Ba-by-lôn xử đoán.
10Babylon siangpahrang mah Zedekiah capanawk to a mikhnuk ah hum pae; Judah angraengnawk boih doeh Riblah ah hum pae.
10Vua Ba-by-lôn khiến giết các con trai của Sê-đê-kia trước mắt người, cũng khiến giết mọi quan trưởng Giu-đa tại Ríp-la.
11To pacoengah Babylon siangpahrang mah Zedekiah ih mik to taprok pae moe, sumqui hoi taoengh paoengah, Babylon ah caeh haih, anih to dueh ai karoek to thongim thungah pakhrak.
11Đoạn sai móc mắt Sê-đê-kia, lấy xiềng xiềng lại. Vua Ba-by-lôn đem Sê-đê-kia về Ba-by-lôn, khiến giam trong ngục cho đến ngày người chết.
12Babylon siangpahrang Nebuchadnezzar angraenghaih saning hathlai takawt, khrah pangato haih, ni hato naah Babylon siangpahrang toepkung, misatuh angraeng Nebuzaradan Jerusalem ah angzoh moe,
12Ngày mồng mười tháng năm, năm thứ mười chín về đời Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, thì Nê-bu-xa-A-đan, quan đầu thị vệ, hầu vua Ba-by-lôn, vào thành Giê-ru-sa-lem.
13Angraeng ih im hoi siangpahrang im to hmai hoiah thlaek; Jerusalem ih imnawk, angraengnawk ih im doeh hmai hoiah thlaek pae boih.
13Người sai đốt nhà Đức Giê-hô-va, cung vua, và hết thảy nhà cửa trong thành Giê-ru-sa-lem. Mọi nhà lớn cũng đều phó cho lửa.
14Siangpahrang toepkung misatuh angraeng hoi nawnto kaom, Khaldian kaminawk ih misatuh kaminawk boih mah, Jerusalem taeng ih sipaenawk to phraek pae o king.
14Rồi cả đạo binh của người Canh-đê thuộc quyền quan đầu thị vệ, phá hết thảy các vách thành chung quanh Giê-ru-sa-lem.
15Misatuh angraeng Nebuzaradan mah amtang kaminawk, vangpui thungah kanghmat kaminawk, ban tok sah kop kaminawk, Babylon siangpahrang khaeah kacawn kaminawk hoi anghmat kaminawk to misong ah caeh haih boih.
15Những kẻ rất nghèo trong dân, với những kẻ sống sót đang ở trong thành, những kẻ đã hàng đầu vua Ba-by-lôn, và từ trong đám đông sót lại, thì Nê-bu-xa-A-đan, qua đầu thị vệ, bắt đem đi làm phu tù hết thảy.
16Toe Siangpahrang toepkung misatuh angraeng Nebuzaradan mah misur takha thungah toksah kami hoi misurtui pasaw amtang kaminawk to caehtaak sut.
16Nê-bu-xa-A-đan, quan đầu thị vệ, chỉ để những người rất nghèo khó lại trong đất, đặng trồng vườn nho và làm ruộng.
17Khaldian kaminawk loe sum hoi sak ih tungnawk, angthui thaih im tungnawk hoi Angraeng ih im thungah kaom okduk tuili hoi sumnawk to Babylon ah phawh o.
17Quân Canh-đê phá tan các cột đồng trong nhà Đức Giê-hô-va, cả đến đế tảng và biển đồng trong nhà Đức Giê-hô-va, rồi đem những đồng đó về Ba-by-lôn.
18Long laomnawk, maiphu sohhaih hmuennawk, hmai kamngaeh ataephaih taitaehnawk, kathuk sabaenawk, kathlahnawk hoi Sithaw hmaa ah toksak naah patoh ih laom sabaenawk to nihcae mah lak o boih.
18Những nồi, vá, kéo, chậu thìa, cùng hết thảy khí mạnh bằng đồng về việc thờ phượng, chúng nó cũng đều đem đi nữa.
19Sui hoi sumkanglung hoiah sak ih kathuk sabaenawk, hmuihoih thlaekhaih sabaenawk, laom sabaenawk, long laomnawk, hmaithawk paaanghaih tungnawk, kathlahnawk hoi boengloengnawk to siangpahrang toepkung misatuh angraeng mah lak boih.
19Quan đầu thị vệ, lại khuân đi cả những chén, lư hương, chậu, nồi, chân đèn, thìa, và bát, phàm những đồ gì làm bằng vàng thì lấy vàng, đồ gì làm bằng bạc thì lấy bạc.
20Solomon siangpahrang mah sak ih Angraeng im thungah, tung hnetto, okduk tuili maeto, tuili tlim ah kaom sumkamling hoi sak ih maitaw tae hathlai hnetto, sumkamling hoi sak ih laom sabenawk loe coi tah thai ai khoek to pop.
20Còn như hai cột đồng, biển đồng, và mười hai con bò đồng dùng làm đế nó, mà vua Sa-lô-môn đã chế tạo cho nhà Đức Giê-hô-va, đồng của những đồ ấy, thì không thể cân được.
21Tung maeto naah, dong hathlai tazetto sang moe, kalen kangkui ah tah naah dong hathlai hnetto oh; kathah baek palito oh moe, akhaw oh boih.
21Mỗi cột cao mười tám thước, yêu vi mười hai thước; trong tầm phổng, dầy bằng bốn ngón tay.
22Tung nuiah kaom sumkamling hoi sak ih ranui khukhaih loe, dong pangato sang, imphu nuiah kaom palok baktih kaom soi ih krang hoi pomegranat thingthai krang loe sumkamling hoiah sak o; kalah thnetto haih tung doeh pomegranat thingthai hoiah anghmong.
22Trên đầu cột có chóp đồng, cao năm thước, chung quanh chóp có lưới và trái lựu, đều bằng đồng cả. Cột kia giống như cột nầy, cũng có lưới và trái lựu.
23Tung taengah soi ih pomegranat thingthai krang loe qui takawt, tarukto oh; palok baktih kaom imphu nuiah ahnuk ahma soi ih pomegranat thingthai krang loe sangqum boih ah cumvaito oh.
23Bốn bề có chín mươi sáu trái lựu, và hết thảy những trái lựu đặt xung quanh lưới cọng là một trăm.
24Siangpahrang toepkung misatuh angraeng mah kalen koek qaima Seraiah, araengh hnetto haih qaima Zephaniah hoi thok toepkung kami thumtonawk to thongim pakhrak hanah naeh.
24Quan đầu thị vệ bắt Sê-ra-gia, thầy tế lễ cả, và Sô-phô-ni, thầy tế lễ phó, cùng ba người giữ cửa đền.
25Vangpui thungah hnuk ih kaminawk, misatuh kaminawk zaehoikung angraeng, siangpahrang poekhaih paekkungnawk to naeh moe, vangpui thungah hnuk ih, prae kaminawk thungah ca tarik kami lu koek hoi vangpui thungah kaom misatuh kami qui taruktonawk doeh a naeh.
25Cũng bắt tại trong thành một hoạn quan coi lính chiến, bảy người cận thần của vua ở trong thành, một viên thơ ký của quan chánh lãnh binh, coi việc mộ dân trong đất, cùng sáu mươi người dân đất đó gặp tại trong thành.
26Misatuh angraeng Nebuzaradan mah to kaminawk to hoih moe, Babylon siangpahrang khaeah Riblah ah caeh haih.
26Nê-bu-xa-A-đan, quan đầu thị vệ, đem hết thảy những tù ấy về cho vua Ba-by-lôn, tại Ríp-la.
27Hamath prae, Riblah vanpui ah Babylon siangpahrang mah, nihcae to hum. To tiah Judah loe a prae thung hoiah misong ah caeh haih ving.
27Vua Ba-by-lôn sai đánh và giết họ tại Ríp-la, trong đất Ha-mát. Aáy vậy người Giu-đa bị điệu đi làm phu tù khỏi đất mình.
28Nebuchadnezzar mah misong ah caeh haih ih kaminawk loe saning sarihto thungah Judah kami sang thum, pumphae thumto oh o;
28Nầy là dân mà Nê-bu-cát-nết-sa đã đem đi làm phu tù; năm thứ bảy, ba ngàn hai mươi ba người Giu-đa.
29Nebuchadnezzar angraenghaih saning hathlai tazetto naah, Jerusalem ih kaminawk cumvai tazet, qui thumto, hnetto oh o;
29Năm thứ mười tạm đời Nê-bu-cát-nết-sa, từ thành Giê-ru-sa-lem bắt đi tám trăm ba mươi hai người.
30saning pumphae thumto naah, siangpahrang Nebuchadnezzar toepkung misatuh angraeng Nebuzaradan mah misong ah hoih ih Judah kaminawk loe cumvai sarih, qui pali, pangato oh; sangqum boih ah kami sang pali, cumvai tarukto phak o.
30Năm thứ hai mươi ba đời vua ấy, Nê-bu-xa-A-đan, quan đầu thị vệ, đem đi bảy trăm bốn mươi lăm người Giu-đa. Hết thảy là bốn ngàn sáu trăm người.
31Judah siangpahrang Jehoiachin misong ah ohhaih saning qui thum, sarih, khrah hathlai hnet, ni pumphae pangato haih, Babylon prae ah Evil-Merodak siangpahrang toksak tangsuekhaih saning ah, anih mah Judah siangpahrang Jehoiachin to prawt moe, thongim thung hoiah loisak.
31Năm thứ ba mươi bảy, sau khi vua Giu-đa là Giê-hô-gia-kin bị bắt, tức là năm đầu vua Ba-by-lôn là Ê-vinh-Mê-rô-đác mới lên ngôi, ngày hai mươi lăm tháng mười hai, vua nầy trả lại chức vua cho Giê-hô-gia-kin vua Giu-đa, và đem ra khỏi ngục;
32Anih to kahoihah lok a thuih pae moe, Babylon ah kaom kalah siangpahrangnawk boih ranui ah anghnuthaih angraeng tangkhang to a paek,
32lấy lời lành nói với, và lập ngôi người cao hơn ngôi các vua cùng ở với mình tại Ba-by-lôn.
33Jehoiachin loe thongkrakhaih khukbuennawk to angkhring moe, a hing thung siangpahrang hmaa ah buh a caak.
33Lại sai đổi áo tù, Giê-hô-gia-kin được ngồi bàn với vua trọn đời mình.
34Babylon siangpahrang mah, anih hanah hing thung, nito pacoeng nito, a duek khoek to caaknaek to paek.
34Giê-hô-gia-kin còn sống bao lâu, thì vua Ba-by-lôn ban đồ cần dùng hằng ngày cho mãi, trọn đời người.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.