Еремії
Chapter 20
Kulish and Puluj Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Еремії 20

Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Як же Пасхор Еммеренко, сьвященник — а він був старший доглядник у Господньому дому, — почув Еремію, пророкуючого сими словами,
1Pha-su-rơ, con trai của thầy tế lễ Y-mê, làm quản đốc nhà Đức Giê-hô-va, có nghe Giê-rê-mi nói tiên tri những việc nầy.
2Ударив Пасхор пророка Еремію, та й посадив його в колоду, що була в верхніх воротях Беняминових у дому Господньому.
2Pha-su-rơ bèn đánh đòn đấng tiên tri Giê-rê-mi, cùm lại ở cửa trên Bên-gia-min, thuộc về nhà Đức Giê-hô-va.
3Та другого дня випустив Пасхор Еремію з колоди, а Еремія промовив до його: Не Пасхором прозвав тебе Господь, але Магор Миссавив.
3Bữa sau, Pha-su-rơ thả Giê-rê-mi ra khỏi cùm. Giê-rê-mi nói với người rằng: Đức Giê-hô-va không xưng ngươi là Pha-su-rơ đâu, mà xưng là Ma-go-Mít-sa-bíp.
4Так бо говорить Господь: Ось, я зроблю тебе страхом тобі самому і всїм приятелям твоїм, побачать бо твої очі, як вони поляжуть од ворожого меча. Та й всього Юду подам я на поталу цареві Вавилонському; він позаймає їх у полонь, одведе у Вавилон і повбиває мечем.
4Vì Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ phó ngươi làm sự kinh hãi cho chính mình và hết thảy bạn hữu mình nữa; chúng nó sẽ chết bởi gươm của kẻ thù mình, chính mắt ngươi sẽ ngó thấy. Ta cũng sẽ phó cả dân sự Giu-đa trong tay vua Ba-by-lôn, người sẽ đem chúng nó sang Ba-by-lôn làm phu tù, và lấy gươm giết đi.
5І подам усї багацтва в сьому городї й ввесь добуток його, і всї дорогоцїнностї його й усї скарби царів Юдейських оддам у руки ворогам їх; і розхоплять їх і заберуть та й повезуть у Вавилон.
5Ta lại sẽ phó mọi của cải thành nầy, cùng lợi đã làm ra, vật quí hiện có; thật, ta sẽ phó đồ châu báu của các vua Giu-đa trong tay kẻ thù nghịch, chúng nó sẽ lấy làm của cướp mà đem về Ba-by-lôn.
6Ти ж, Пасхоре, й усї домовники твої пійдете в неволю, й прийдеш у Вавилон, і помреш там, і будеш там похований, ти й усї приятелї твої, що їм пророкував єси лож.
6Hỡi Pha-su-rơ, chính mình ngươi cùng những kẻ ở trong nhà ngươi, thảy đều đi làm phu tù. Ngươi sẽ đến Ba-by-lôn, chết và chôn tại đó, luôn cả bạn hữu ngươi nữa, tức những kẻ mà ngươi đã nói tiên tri giả dối cho.
7Ти звів мене, Господи, й я зведений; ти дужший за мене, та й подужав мене; я зробився щоденнім сьміховищем, кожен мене на глум піднімає.
7Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã khuyên dỗ tôi, và tôi đã chịu khuyên dỗ; Ngài mạnh hơn tôi và đã được thắng. Trọn ngày tôi cứ làm trò cười, và ai cũng nhạo báng tôi.
8Бо скоро тілько зачну говорити, зараз мушу кричати про напад, про спустошеннє, і так слово Господнє зробилось про мене приводом до наруги й насьмїху.
8Mỗi lần tôi nói thì cất tiếng kêu la; tôi kêu rằng: Bạo ngược và hủy diệt! Vì lời của Đức Giê-hô-va làm cho tôi cả ngày bị sỉ nhục chê cười.
9І подумав я собі: не споминати му про него і в його імя не буду більше промовляти! Та в серцї в мене, мов би огонь запалав, втаєний в костях моїх; я силкувався зʼупинити його, та й не здолїв.
9Nếu tôi nói: Tôi sẽ chẳng nói đến Ngài nữa; tôi sẽ chẳng nhân danh Ngài mà nói nữa, thì trong lòng tôi như lửa đốt cháy, bọc kín trong xương tôi, và tôi mệt mỏi vì nín lặng, không chịu được nữa.
10І чував я ворожі речі в натовпі, погрози навкруги: „Викажіть! Обвинуватимо його!‟ Ті самі, що з ними дружився, підстерігали, чи я не спіткнуся: Може попадеться, так ми переможемо його та й помстимось на йому.
10Tôi có nghe những lời chế nhạo của nhiều người, kinh hãi mọi bề. Những bạn hữu thiết nghĩa của tôi trông cho tôi vấp ngã, đều nói rằng: Hãy cáo nó, và chúng ta cũng sẽ cáo nó; có lẽ nó sẽ chịu khuyên dỗ, thì chúng ta sẽ thắng nó, và trả thù nó.
11Но Господь ізо мною, мов той невмірака-воін; то ж вороги мої спіткнуться та й не встануть. Осоромляться, бо дурним робом ходили; віковічнім, незабутним соромом окриються.
11Nhưng Đức Giê-hô-va ở với tôi như một tay anh hùng đáng khiếp; nên những kẻ bắt bớ tôi sẽ vấp ngã, sẽ chẳng thắng hơn. Vì họ ăn ở chẳng khôn, thì sẽ chịu sỉ nhục rất lớn, tức là sự hổ nhuốc đời đời chẳng hề quên được.
12Господи сил! ти, що вивідуєш праведного, що бачиш утробу й серце. Дай менї вбачати пімсту твою над ними, бо на тебе здав я справу мою.
12Nhưng, hỡi Đức Giê-hô-va vạn quân! Ngài là Đấng thử người công bình, xem thấu trong lòng trong trí, xin cho tôi thấy Ngài báo thù họ, vì tôi đã đem việc mình tỏ cùng Ngài.
13О, сьпівайте Господеві, хвалїте Господа, бо він рятує душу вбогого з рук лиходїїв. —
13Hãy hát cho Đức Giê-hô-va, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Vì Ngài đã giải cứu linh hồn kẻ nghèo nàn ra khỏi tay những kẻ ác.
14Нехай буде той день проклят, як я на сьвіт родився! Нехай не буде благословен той день, як породила мене мати моя!
14Đáng rủa cho cái ngày mà tôi đã sinh! Nguyền cho cái ngày mà mẹ tôi đẻ tôi ra đừng được phước!
15Нехай буде й той чоловік проклят, що принїс мойму батькові звістку: Родилось тобі хлопятко, і тим його вельми звеселив.
15Đáng rủa thay là người đem tin cho cha tôi rằng: Ngươi đã sanh con trai! làm cho cha tôi đầy sự vui mừng.
16Нехай станеться тому чоловікові таке, як тим містам, що їх порозвалював Господь та й не пожалував, та щоб він чув крик від ранку, а зойк від полудня, —
16Nguyền cho người đó cũng như các thành mà Đức Giê-hô-va đã phá đổ chẳng phàn nàn! Nguyền cho nó vừa lúc ban mai nghe kêu la, đến trưa nghe kêu lớn tiếng;
17За те, що він мене не вбив в материній утробі, — так, щоб моя мати була менї гробом, а тїло її остало було на все вагітним.
17vì đã chẳng giết tôi từ trong lòng mẹ; thì mẹ tôi đã làm mồ mả tôi, và thai lớn luôn luôn.
18Чи про те ж бо я вийшов із материної утроби, щоб дознавати самої працї, та печалї, та щоб коротати вік мій у зневазї?
18Sao tôi đã ra khỏi thai để chịu cực khổ lo buồn, cả đời mang sỉ nhục?

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.