Јеремија 20
Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicTranslation
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
Vietnamese Bible (1923 translation)
1А Пасхор син Имиров, свештеник, који беше старешина у дому Господњем, чу Јеремију где пророкује те речи.
1Pha-su-rơ, con trai của thầy tế lễ Y-mê, làm quản đốc nhà Đức Giê-hô-va, có nghe Giê-rê-mi nói tiên tri những việc nầy.
2И удари Пасхор пророка Јеремију, и метну га у тамницу на горњим вратима Венијаминовим уз дом Господњи.
2Pha-su-rơ bèn đánh đòn đấng tiên tri Giê-rê-mi, cùm lại ở cửa trên Bên-gia-min, thuộc về nhà Đức Giê-hô-va.
3А сутрадан кад Пасхор изведе Јеремију из тамнице, рече му Јеремија: Господ ти наде име не Пасхор него Магор-Мисавив.
3Bữa sau, Pha-su-rơ thả Giê-rê-mi ra khỏi cùm. Giê-rê-mi nói với người rằng: Đức Giê-hô-va không xưng ngươi là Pha-su-rơ đâu, mà xưng là Ma-go-Mít-sa-bíp.
4Јер овако вели Господ: Ево, ја ћу пустити на те страх, на тебе и на све пријатеље твоје, који ће пасти од мача непријатеља својих, и очи ће твоје видети, и свега ћу Јуду дати у руке цару вавилонском, који ће их одвести у Вавилон, и побиће их мачем.
4Vì Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ phó ngươi làm sự kinh hãi cho chính mình và hết thảy bạn hữu mình nữa; chúng nó sẽ chết bởi gươm của kẻ thù mình, chính mắt ngươi sẽ ngó thấy. Ta cũng sẽ phó cả dân sự Giu-đa trong tay vua Ba-by-lôn, người sẽ đem chúng nó sang Ba-by-lôn làm phu tù, và lấy gươm giết đi.
5И даћу све богатство тог града и сав труд његов и све што има драгоцено, и све благо царева Јудиних даћу непријатељима њиховим у руке, и разграбиће и узети и однети у Вавилон.
5Ta lại sẽ phó mọi của cải thành nầy, cùng lợi đã làm ra, vật quí hiện có; thật, ta sẽ phó đồ châu báu của các vua Giu-đa trong tay kẻ thù nghịch, chúng nó sẽ lấy làm của cướp mà đem về Ba-by-lôn.
6И ти, Пасхоре, и сви који живе у твом дому отићи ћете у ропство; и доћи ћеш у Вавилон и онде ћеш умрети и онде ћеш бити погребен ти и сви пријатељи твоји, којима си пророковао лажно.
6Hỡi Pha-su-rơ, chính mình ngươi cùng những kẻ ở trong nhà ngươi, thảy đều đi làm phu tù. Ngươi sẽ đến Ba-by-lôn, chết và chôn tại đó, luôn cả bạn hữu ngươi nữa, tức những kẻ mà ngươi đã nói tiên tri giả dối cho.
7Наговарао си ме, Господе, и дадох се наговорити; био си јачи од мене и надвладао си ме; на подсмех сам сваки дан, свак ми се подсмева.
7Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã khuyên dỗ tôi, và tôi đã chịu khuyên dỗ; Ngài mạnh hơn tôi và đã được thắng. Trọn ngày tôi cứ làm trò cười, và ai cũng nhạo báng tôi.
8Јер од кад говорим, вапим, ради насиља и пустошења вичем, јер ми је реч Господња на поругу и на подсмех сваки дан.
8Mỗi lần tôi nói thì cất tiếng kêu la; tôi kêu rằng: Bạo ngược và hủy diệt! Vì lời của Đức Giê-hô-va làm cho tôi cả ngày bị sỉ nhục chê cười.
9И рекох: Нећу Га више помињати, нити ћу више говорити у име Његово; али би у срцу мом као огањ разгорео, затворен у костима мојим, и уморих се задржавајући га, и не могох више.
9Nếu tôi nói: Tôi sẽ chẳng nói đến Ngài nữa; tôi sẽ chẳng nhân danh Ngài mà nói nữa, thì trong lòng tôi như lửa đốt cháy, bọc kín trong xương tôi, và tôi mệt mỏi vì nín lặng, không chịu được nữa.
10Јер чујем поруге од многих, страх од свуда: Прокажите да прокажемо; сви који беху у миру са мном, вребају да посрнем: Да ако се превари, те ћемо га надвладати и осветићемо му се.
10Tôi có nghe những lời chế nhạo của nhiều người, kinh hãi mọi bề. Những bạn hữu thiết nghĩa của tôi trông cho tôi vấp ngã, đều nói rằng: Hãy cáo nó, và chúng ta cũng sẽ cáo nó; có lẽ nó sẽ chịu khuyên dỗ, thì chúng ta sẽ thắng nó, và trả thù nó.
11Али је Господ са мном као страшан јунак; зато они који ме гоне спотакнуће се и неће надвладати; посрамиће се врло; јер неће бити срећни, срамота вечна неће се заборавити.
11Nhưng Đức Giê-hô-va ở với tôi như một tay anh hùng đáng khiếp; nên những kẻ bắt bớ tôi sẽ vấp ngã, sẽ chẳng thắng hơn. Vì họ ăn ở chẳng khôn, thì sẽ chịu sỉ nhục rất lớn, tức là sự hổ nhuốc đời đời chẳng hề quên được.
12Зато, Господе над војскама, који кушаш праведника, који видиш бубреге и срце, дај да видим Твоју освету на њима, јер Теби казах парбу своју.
12Nhưng, hỡi Đức Giê-hô-va vạn quân! Ngài là Đấng thử người công bình, xem thấu trong lòng trong trí, xin cho tôi thấy Ngài báo thù họ, vì tôi đã đem việc mình tỏ cùng Ngài.
13Певајте Господу, хвалите Господа, јер избави душу сиромаху из руке зликовачке.
13Hãy hát cho Đức Giê-hô-va, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Vì Ngài đã giải cứu linh hồn kẻ nghèo nàn ra khỏi tay những kẻ ác.
14Проклет да је дан у који се родих! Дан, у који ме роди мати моја, да није благословен!
14Đáng rủa cho cái ngày mà tôi đã sinh! Nguyền cho cái ngày mà mẹ tôi đẻ tôi ra đừng được phước!
15Проклет да је човек који јави оцу мом и врло га обрадова говорећи: Роди ти се син.
15Đáng rủa thay là người đem tin cho cha tôi rằng: Ngươi đã sanh con trai! làm cho cha tôi đầy sự vui mừng.
16И тај човек да би био као градови које Господ затре и не би Му жао! Нека слуша вику ујутру и вриску у подне,
16Nguyền cho người đó cũng như các thành mà Đức Giê-hô-va đã phá đổ chẳng phàn nàn! Nguyền cho nó vừa lúc ban mai nghe kêu la, đến trưa nghe kêu lớn tiếng;
17Што ме не усмрти у утроби материној да би ми мати моја била гроб, и утроба њена да би остала до века трудна.
17vì đã chẳng giết tôi từ trong lòng mẹ; thì mẹ tôi đã làm mồ mả tôi, và thai lớn luôn luôn.
18Зашто изиђох из утробе да видим муку и жалост и да се сврше у срамоти дани моји?
18Sao tôi đã ra khỏi thai để chịu cực khổ lo buồn, cả đời mang sỉ nhục?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.