Psalms
Chapter 37
Douay-Rheims Bible, Amer…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Douay-Rheims Bible, American Edition (1899)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A psalm for David, for a remembrance of the sabbath.
1Chớ phiền lòng vì cớ kẻ làm dữ, Cũng đừng ghen tị kẻ tập tành sự gian ác.
2Rebuke me not, O Lord, in thy indignation; nor chastise me in thy wrath.
2Vì chẳng bao lâu chúng nó sẽ bị phát như cỏ, Và phải héo như cỏ tươi xanh.
3For thy arrows are fastened in me: and thy hand hath been strong upon me.
3Hãy tin cậy Đức Giê-hô-va, và làm điều lành; Khá ở trong xứ, và nuôi mình bằng sự thành tín của Ngài.
4There is no health in my flesh, because of thy wrath: there is no peace for my bones, because of my sins.
4Cũng hãy khoái lạc nơi Đức Giê-hô-va, Thì Ngài sẽ ban cho ngươi điều lòng mình ao ước.
5For my iniquities are gone over my head: and as a heavy burden are become heavy upon me.
5Hãy phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va, Và nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành việc ấy.
6My sores are putrified and corrupted, because of my foolishness.
6Ngài sẽ khiến công bình ngươi lộ ra như ánh sáng, Và tỏ ra lý đoán ngươi như chánh ngọ.
7I am become miserable, and am bowed down even to the end: I walked sorrowful all the day long.
7Hãy yên tịnh trước mặt Đức Giê-hô-va, và chờ đợi Ngài. Chớ phiền lòng vì cớ kẻ được may mắn trong con đường mình, Hoặc vì cớ người làm thành những mưu ác.
8For my loins are filled with illusions; and there is no health in my flesh.
8Hãy dẹp sự giận, và bỏ sự giận hoảng; Chớ phiền lòng, vì điều đó chỉ gây ra việc ác.
9I am afflicted and humbled exceedingly: I roared with the groaning of my heart.
9Vì những kẻ làm ác sẽ bị diệt; Còn kẻ nào trông đợi Đức Giê-hô-va sẽ được đất làm cơ nghiệp.
10Lord, all my desire is before thee, and my groaning is not hidden from thee.
10Một chút nữa kẻ ác không còn. Ngươi sẽ xem xét chỗ hắn, thật không còn nữa.
11My heart is troubled, my strength hath left me, and the light of my eyes itself is not with me.
11Song người hiền từ sẽ nhận được đất làm cơ nghiệp, Và được khoái lạc về bình yên dư dật.
12My friends and my neighbours have drawn near, and stood against me. And they that were near me stood afar off:
12Kẻ ác lập mưu nghịch người công bình, Và nghiến răng cùng người.
13And they that sought my soul used violence. And they that sought evils to me spoke vain things, and studied deceits all the day long.
13Chúa sẽ chê cười nó, Vì thấy ngày phạt nó hầu đến.
14But I, as a deaf man, heard not: and as a dumb man not opening his mouth.
14Kẻ ác đã rút gươm và giương cung mình, Đặng đánh đổ người khốn cùng và kẻ thiếu thốn, Đặng giết người đi theo sự ngay thẳng.
15And I became as a man that heareth not: and that hath no reproofs in his mouth.
15Gươm chúng nó sẽ đâm vào lòng chúng nó, Và cung chúng nó sẽ bị gãy.
16For in thee, O Lord, have I hoped: thou wilt hear me, O Lord my God.
16Của người công bình tuy ít, Còn hơn sự dư dật của nhiều người ác.
17For I said: Lest at any time my enemies rejoice over me: and whilst my feet are moved, they speak great things against me.
17Vì cánh tay kẻ ác sẽ bị gãy, Nhưng Đức Giê-hô-va nâng đỡ người công bình.
18For I am ready for scourges: and my sorrow is continually before me.
18Đức Giê-hô-va biết số ngày kẻ trọn vẹn, Và cơ nghiệp người sẽ còn đến đời đời.
19For I will declare my inequity: and I will think for my sin.
19Trong thì xấu xa họ không bị hổ thẹn; Trong ngày đói kém họ được no nê.
20But my enemies live, and are stronger that I: and they hate me wrongfully are multiplied.
20Còn kẻ ác sẽ hư mất, Những kẻ thù nghịch Đức Giê-hô-va sẽ như mỡ chiên con: Chúng nó phải đốt tiêu, tan đi như khói.
21They that render evil for good, have detracted me, because I followed goodness.
21Kẻ ác mượn, mà không trả lại; Còn người công bình làm ơn, và ban cho.
22Forsake me not, O Lord my God: do not thou depart from me.
22Vì người mà Đức Chúa Trời ban phước cho sẽ nhận được đất; Còn kẻ mà Ngài rủa sả sẽ bị diệt đi.
23Attend unto my help, O Lord, the God of my salvation.
23Đức Giê-hô-va định liệu các bước của người, Và Ngài thích đường lối người:
no verse 24 in this text
24Dầu người té, cũng không nằm sải dài; Vì Đức Giê-hô-va lấy tay Ngài nâng đỡ người.
no verse 25 in this text
25Trước tôi trẻ, rày đã già, Nhưng chẳng hề thấy người công bình bị bỏ, Hay là dòng dõi người đi ăn mày.
no verse 26 in this text
26Hằng ngày người thương xót, và cho mượn; Dòng dõi người được phước.
no verse 27 in this text
27Hãy tránh điều dữ, và làm điều lành, Thì sẽ được ở đời đời.
no verse 28 in this text
28Vì Đức Giê-hô-va chuộng sự công bình, Không từ bỏ người thánh của Ngài; họ được Ngài gìn giữ đời đời: Còn dòng dõi kẻ dữ sẽ bị diệt đi.
no verse 29 in this text
29Người công bình sẽ nhận được đất, Và ở tại đó đời đời.
no verse 30 in this text
30Miệng người công bình xưng điều khôn ngoan, Và lưỡi người nói sự chánh trực.
no verse 31 in this text
31Luật pháp Đức Chúa Trời người ở trong lòng người; Bước người không hề xiêu tó.
no verse 32 in this text
32Kẻ ác rình rập người công bình, Và tìm giết người.
no verse 33 in this text
33Đức Giê-hô-va không bỏ người trong tay hắn, Cũng chẳng định tội cho người khi người bị đoán xét.
no verse 34 in this text
34Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va, và giữ theo đường Ngài, Thì Ngài sẽ nâng ngươi khiến để nhận được đất! Khi kẻ ác bị diệt đi, thì ngươi sẽ thấy điều ấy.
no verse 35 in this text
35Tôi từng thấy kẻ ác có thế lực lớn, Trải ra như cây xanh tươi mọc nơi cố thổ,
no verse 36 in this text
36Song có người đi qua, kìa, hắn chẳng còn nữa; Tôi tìm hắn, nhưng không gặp.
no verse 37 in this text
37Hãy chăm chú người trọn vẹn, và nhìn xem người ngay thẳng; Vì cuối cùng người hòa bình có phước.
no verse 38 in this text
38Còn các kẻ vi phạm sẽ cùng nhau bị hủy hoại; Sự tương lai kẻ ác sẽ bị diệt đi.
no verse 39 in this text
39Nhưng sự cứu rỗi người công bình do Đức Giê-hô-va mà đến; Ngài là đồn lũy của họ trong thì gian truân.
no verse 40 in this text
40Đức Giê-hô-va giúp đỡ và giải cứu họ; Ngài giải họ khỏi kẻ ác và cứu rỗi cho, Bởi vì họ đã nương náu mình nơi Ngài.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.