Жидів
Chapter 10
Kulish and Puluj Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Жидів 10

Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Маючи бо закон тїнь будучих благ, а не самий образ річей, щороку тими самими жертвами, які приносять без перестану, нїколи не може звершити приступаючих.
1Vả, luật pháp chỉ là bóng của sự tốt lành ngày sau, không có hình thật của các vật, nên không bao giờ cậy tế lễ mỗi năm hằng dâng như vậy, mà khiến kẻ đến gần Đức Chúa Trời trở nên trọn lành được.
2Ато б перестали приносити їх, не мавши вже ті, хто служить, нїякої совісти за гріхи, раз очистившись.
2Nếu được, thì những kẻ thờ phượng đã một lần được sạch rồi, lương tâm họ không còn biết tội nữa, nhân đó, há chẳng thôi dâng tế lễ hay sao?
3А в них що року (робить ся) спомни гріхів.
3Trái lại, những tế lễ đó chẳng qua là mỗi năm nhắc cho nhớ lại tội lỗi.
4Не можна бо, щоб кров волова та козлина знимала гріхи.
4Vì huyết của bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được.
5Тим же, входячи у сьвіт, глаголе: „Жертви і приносу не схотїв єси, тїло ж наготовив Менї єси.
5Bởi vậy cho nên, Đấng Christ khi vào thế gian, phán rằng: Chúa chẳng muốn hy sinh, cũng chẳng muốn lễ vật, Nhưng Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi.
6Огняні жертви і (жертви) за гріх не вподобав єси.
6Chúa chẳng nhậm của lễ thiêu, cũng chẳng nhậm của lễ chuộc tội.
7Тодї я сказав: Ось, ійду (у починї книги написано про мене) вчинити волю Твою, Боже.‟
7Tôi bèn nói: Hỡi Đức Chúa Trời, nầy tôi đến-Trong sách có chép về tôi-Tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.
8Сказавши вище: „Що жертва і принос і огняні жертви і (жертви) за гріхи не схотїв єси, анї вподобав єси,‟ котрі по закону приносять ся,
8Trước đã nói: Chúa chẳng muốn, chẳng nhậm những hi sinh, lễ vật, của lễ thiêu, của lễ chuộc tội, đó là theo luật pháp dạy; sau lại nói: Đây nầy, tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.
9потім рече: „Ось, ійду вчинити волю Твою, Боже.‟ Зносить перве, щоб друге поставити.
9Vậy thì, Chúa đã bỏ điều trước, đặng lập điều sau.
10По сїй-то волї осьвячені ми одним приносом тїла Ісус-Христового.
10Aáy là theo ý muốn đó mà chúng ta được nên thánh nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Jêsus Christ một lần đủ cả.
11І всякий же сьвященик стоїть що-дня служачи і много раз ті ж самі жертви приносячи, котрі нїколи не можуть зняти гріхів.
11Phàm thầy tế lễ mỗi ngày đứng hầu việc và năng dâng của lễ đồng một thức, là của lễ không bao giờ cất tội lỗi được,
12Він же, принїсши одну жертву за гріхи, сїв на завсїди по правицї Бога,
12còn như Đấng nầy, đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ, rồi ngồi đời đời bên hữu Đức Chúa Trời,
13дожидаючи далїй, доки положять ся вороги Його підніжком ніг Його.
13từ rày về sau đang đợi những kẻ thù nghịch Ngài bị để làm bệ dưới chân Ngài vậy.
14Одним бо приносом звершив на віки осьвячуємих.
14Vì nhờ dâng chỉ một của tế lễ, Ngài làm cho những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời.
15Сьвідкує ж нам і Дух сьвятий; по реченому бо перше:
15Đức Thánh Linh cũng làm chứng cho chúng ta như vậy; vì đã phán rằng:
16„Се завіт, що завітувати му з ними після тих днїв‟, глаголе Господь: „Давши закони мої в серця їх, і в думках їх напишу їх,
16Chúa phán: Nầy là giao ước ta lập với chúng nó Sau những ngày đó, Ta sẽ để luật pháp ta vào lòng chúng nó Và ghi tạc nơi trí khôn,
17і гріхів їх і беззаконий їх не споминати му вже.‟
17Lại phán: Ta sẽ chẳng còn nhớ đến tội lỗi gian ác của chúng nó nữa.
18А де відпущеннє гріхів, там нема вже приносу за гріхи.
18Bởi hễ có sự tha thứ thì không cần dâng của lễ vì tội lỗi nữa.
19Оце ж, браттє, маючи свободу входити у сьвятиню кровю Ісусовою,
19Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ huyết Đức Chúa Jêsus được dạn dĩ vào nơi rất thánh,
20дорогою новою і живою, котру обновив нам Він завісою, се єсть тїлом своїм,
20bởi đường mới và sống mà Ngài đã mở ngang qua cái màn, nghĩa là ngang qua xác Ngài,
21і Єрея великого над домом Божим,
21lại vì chúng ta có một thầy tế lễ lớn đã lập lên cai trị nhà Đức Chúa Trời,
22приступаймо з щирим серцем в повнотї віри, окропивши серця від совісти лукавої, і обмивши тїло водою чистою;
22nên chúng ta hãy lấy lòng thật thà với đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu, thân thể rửa bằng nước trong, mà đến gần Chúa.
23держімо непохибне визнаннє надїї (вірен бо Той, хто обіцяв)
23Hãy cầm giữ sự làm chứng về điều trông cậy chúng ta chẳng chuyển lay, vì Đấng đã hứa cùng chúng ta là thành tín.
24і назираймо один одного, заохочуючи до любови і добрих дїл,
24Ai nấy hãy coi sóc nhau để khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt lành;
25не покидаючи громади своєї, як у деяких є звичай, а один одного піддержуючи, і стілько більше, скілько більше бачите, що наближуєть ся день.
25chớ bỏ sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy.
26Бо коли ми самохіть грішимо, прийнявши розум правди, то вже не зостаєть ся жертви за гріхи,
26Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa,
27а якесь страшне сподїваннє суду і огняний гнїв, що має пожерти противників.
27nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi.
28Хто відцурав ся закону Мойсейового, при двох або трьох сьвідках, смерть йому без милосердя:
28Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót,
29Скільки ж, думаєте, гіршої муки заслужить, хто Сина Божого потоптав і кров завіту, котрою осьвятив ся, вважав за звичайну, і Духа благодати зневажив?
29huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao?
30Знаємо Того, хто промовив: „Менї відомщеннє, я віддам, глаголе Господь‟; і знов: „Господь судити ме людей своїх.‟
30Vì chúng ta biết Đấng đã phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta; ta sẽ báo ứng, ấy là lời Chúa phán. Lại rằng: Chúa sẽ xét đoán dân mình.
31Страшно впасти в руки Бога живого.
31Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay!
32Згадайте ж перші днї, в котрі ви, просьвітившись, перенесли велику боротьбу терпіння,
32Hãy nhớ lại những lúc ban đầu đó, anh em đã được soi sáng rồi, bèn chịu cơn chiến trận lớn về những sự đau đớn:
33то на зневагу і знущаннє виставлювані, то буваючи спільниками тих, що так жили.
33phần thì chịu sỉ nhục, gặp gian nan, như làm trò cho thiên hạ xem, phần thì chia khổ với những kẻ bị đối đãi đồng một cách.
34Бо і в моїх кайданах ви зо мною мучились, і жакуваннє маєтків ваших з радістю приймали, відаючи, що маєте собі маєток на небесах вічний і луччий.
34Vì anh em đã thương xót kẻ bị tù, và vui lòng chịu của cải mình bị cướp, bởi biết mình có của cải quí hơn hằng còn luôn.
35Не кидайте ж сьміливости вашої, котра має нагороду велику.
35Vậy chớ bỏ lòng dạn dĩ mình, vốn có một phần thưởng lớn đã để dành cho.
36Терпіннє бо вам треба мати, щоб, волю Божу вчинивши, прийняли обітуваннє.
36Vì anh em cần phải nhịn nhục, hầu cho khi đã làm theo ý muốn Đức Chúa Trời rồi, thì được như lời đã hứa cho mình.
37Вже бо незабаром ось, ось Грядущий прийде, і не загаєть ся.
37Còn ít lâu, thật ít lâu nữa, Thì Đấng đến sẽ đến; Ngài không chậm trễ đâu.
38„А праведний з віри жив буде,‟ і: „Коли хто малодушен, не вподобає душа моя його.‟
38Người công bình của ta sẽ cậy đức tin mà sống, Nhưng nếu lui đi thì linh hồn ta chẳng lấy làm đẹp chút nào.
39Ми ж не малодушні (собі) на погибель, а віруючі на спасеннє душі.
39Về phần chúng ta, nào phải là kẻ lui đi cho hư mất đâu, bèn là kẻ giữ đức tin cho linh hồn được cứu rỗi.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.