Hebera 10
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A O ke kanawai ia ia ke aka no na mea maikai e hiki mai ana, aole ke kino maoli a ua mau mea la, aole loa e hiki ia ia me na mohai i kaumahaia'ku i kela makahiki a i keia makahiki ke hoohemolele i ka poe i hookoke ilaila.
1Vả, luật pháp chỉ là bóng của sự tốt lành ngày sau, không có hình thật của các vật, nên không bao giờ cậy tế lễ mỗi năm hằng dâng như vậy, mà khiến kẻ đến gần Đức Chúa Trời trở nên trọn lành được.
2No ka mea, ina i hiki ia ia, aole auei i oki ua mau mohai la? no ka mea, o ka poe hoomana, i hoohuikala hookahi ia, aole lakou i ike hou i ko lakou hewa iho.
2Nếu được, thì những kẻ thờ phượng đã một lần được sạch rồi, lương tâm họ không còn biết tội nữa, nhân đó, há chẳng thôi dâng tế lễ hay sao?
3Aka, ma ua mau mohai la i hoomanaoia'i ka hewa i kela makahiki a i keia makahiki.
3Trái lại, những tế lễ đó chẳng qua là mỗi năm nhắc cho nhớ lại tội lỗi.
4A he oiaio, he mea hiki ole i ke koko o na bipikane a me na kao ke kala aku i ka hewa.
4Vì huyết của bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được.
5Nolaila, i kona hiki ana mai i ke ao nei, i aku la ia, O ka mohai a me ka alana, o kau ia i makemake ole ai, aka, he kino kau i hoomakaukau ai no'u.
5Bởi vậy cho nên, Đấng Christ khi vào thế gian, phán rằng: Chúa chẳng muốn hy sinh, cũng chẳng muốn lễ vật, Nhưng Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi.
6Aole hoi oe i oluolu i na mohai kuni, a me na mohai no ka hala.
6Chúa chẳng nhậm của lễ thiêu, cũng chẳng nhậm của lễ chuộc tội.
7Alaila, i iho la au, Eia hoi, ua hele mai nei au, (ua palapalaia no'u ma ka buke palapala,) e hana aku i kou makemake, e ke Akua.
7Tôi bèn nói: Hỡi Đức Chúa Trời, nầy tôi đến-Trong sách có chép về tôi-Tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.
8I kana olelo mua ana, O na mohai, a me na alana, o na mohaikuni, a me na mohaihala, o kau ia i makemake ole ai, a i oluolu ole ai; o na mea i kaumahaia aku ai mamuli o ke kanawai;
8Trước đã nói: Chúa chẳng muốn, chẳng nhậm những hi sinh, lễ vật, của lễ thiêu, của lễ chuộc tội, đó là theo luật pháp dạy; sau lại nói: Đây nầy, tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.
9Alaila, olelo hou ae la, Eia hoi, ua hele mai nei au e hana aku i kou makemake, e ke Akua. Ua hookae oia i ka mea mua, e hookupaa ai ia i ka lua.
9Vậy thì, Chúa đã bỏ điều trước, đặng lập điều sau.
10Ma ia makemake hoi, ua loaa ia kakou ka huikala ana, ma ka mohai hookahi ana i ke kino o Iesu Kristo.
10Aáy là theo ý muốn đó mà chúng ta được nên thánh nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Jêsus Christ một lần đủ cả.
11A o na kahuna ua ku lakou e hana ana i ka oihana i kela la i keia la, e kaumaha pinepine ana i ua mau mohai la, i na mea hiki ole ke kala i ka hewa;
11Phàm thầy tế lễ mỗi ngày đứng hầu việc và năng dâng của lễ đồng một thức, là của lễ không bao giờ cất tội lỗi được,
12Aka, o keia hoi, mahope iho o kona kaumaha ana i ka mohai hookahi no ka hewa, noho iho la ia a mau loa, ma ka lima akau o ke Akua;
12còn như Đấng nầy, đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ, rồi ngồi đời đời bên hữu Đức Chúa Trời,
13E kali ana, a hooliloia mai kona poe enemi i paepae wawae nona.
13từ rày về sau đang đợi những kẻ thù nghịch Ngài bị để làm bệ dưới chân Ngài vậy.
14Ma ka mohai hookahi hoi, i hana'i oia i ka mea e pono mau ai ka poe nona ka huikala.
14Vì nhờ dâng chỉ một của tế lễ, Ngài làm cho những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời.
15A ua hoike mai ka Uhane Hemolele i keia mea ia kakou; no ka mea, ua olelo ia,
15Đức Thánh Linh cũng làm chứng cho chúng ta như vậy; vì đã phán rằng:
16Eia ka berita a'u e hana aku ai me lakou, mahope iho o ua mau la la, wahi a ka Haku; E pai iho au i ko'u mau kanawai ma ko lakou naau, a e kakau iho hoi ia mau mea ma ko lakou manao:
16Chúa phán: Nầy là giao ước ta lập với chúng nó Sau những ngày đó, Ta sẽ để luật pháp ta vào lòng chúng nó Và ghi tạc nơi trí khôn,
17Aole hoi au e hoomanao hou i ko lakou mau hewa a me ko lakou mau hala.
17Lại phán: Ta sẽ chẳng còn nhớ đến tội lỗi gian ác của chúng nó nữa.
18A ma kahi i pau ai ia mau mea i ke kalaia, aohe mohai hou aku no ka hewa.
18Bởi hễ có sự tha thứ thì không cần dâng của lễ vì tội lỗi nữa.
19A i ka loaa ana ia kakou, e na hoahanau, ke komo ana iloko o kahi hoano ma ke koko o Iesu,
19Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ huyết Đức Chúa Jêsus được dạn dĩ vào nơi rất thánh,
20Ma ka aoao hou e ola'i, ana i hoomakaukau ai mawaena o ka paku, oia kona kino;
20bởi đường mới và sống mà Ngài đã mở ngang qua cái màn, nghĩa là ngang qua xác Ngài,
21A he Kahuna nui hoi maluna o ka hale o ke Akua;
21lại vì chúng ta có một thầy tế lễ lớn đã lập lên cai trị nhà Đức Chúa Trời,
22E hookokoke kakou me ka maopopo loa o ka manaoio, a me ka naau oiaio, me ka huikalaia o ko kakou naau kaumaha i ka hewa, a me ka holoiia o ko kakou kino me ka wai maemae;
22nên chúng ta hãy lấy lòng thật thà với đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu, thân thể rửa bằng nước trong, mà đến gần Chúa.
23E hoopaa kakou i ka manaolana a kakou i hai aku ai me ka luli ole; no ka mea, he ku paa io ko ka mea nana i hai mua mai ka pono.
23Hãy cầm giữ sự làm chứng về điều trông cậy chúng ta chẳng chuyển lay, vì Đấng đã hứa cùng chúng ta là thành tín.
24A e nana pono hoi kakou i kekahi i kekahi, e hooikaika ai i ke aloha a me na hana maikai.
24Ai nấy hãy coi sóc nhau để khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt lành;
25Aole hoi e haalele ana i ko kakou hoakoakoa ana e like me ka hana ana a kekahi poe; aka, e hooikaika pu ana, me ka ikaika nui ae, i ko oukou ike ana aku e kokoke mai ana ua la la.
25chớ bỏ sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy.
26A ina e hana hewa kakou me ka ae o ka naau, mahope iho o ka loaa ana mai ia kakou ka ike ana i ka olelo oiaio, aohe mohai hou no na hala;
26Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa,
27Aka, o ke kali weliweli ana i ka hoopaiia mai, a me ka huhu wela e pau ai ka poe enemi.
27nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi.
28O ka mea i pale i ke kanawai o Mose, ua make ia me ke aloha ole ia, ma na mea hoike elua, ekolu paha:
28Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót,
29Heaha la i ko oukou manao ka make eha nui aku e manaoia ana he pono, no ka mea nana i hehi malalo iho o ka wawae i ke Keiki a ke Akua, me ka manao i ke koko o ka berita ana i hoolaaia ai he mea haumia, a me ka hoowahawaha aku i ka Uhane lokomaikai?
29huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao?
30Ua ike no hoi kakou i ka mea nana i olelo iho, No'u no ka hoopai ana, na'u no ia e uku aku, wahi a ka Haku; eia hou hoi, Na ka Haku no e hoopai i kona poe kanaka.
30Vì chúng ta biết Đấng đã phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta; ta sẽ báo ứng, ấy là lời Chúa phán. Lại rằng: Chúa sẽ xét đoán dân mình.
31He mea weliweli ka haule ana iloko o na lima o ke Akua ola.
31Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay!
32E hoomanao hoi oukou i na la mamua, i ka manawa i hoomanawanui ai oukou i ka paio nui ana, me ka ehaeha, mahope iho o ko oukou naauao ana;
32Hãy nhớ lại những lúc ban đầu đó, anh em đã được soi sáng rồi, bèn chịu cơn chiến trận lớn về những sự đau đớn:
33No ko oukou lilo ana i mea nanaia mai ai, ma ka hoino ana, a me ka ehaeha ana kekahi; a, o kekahi, no ka oukou lilo ana i mau hoaaloha no ka poe i koloheia pela.
33phần thì chịu sỉ nhục, gặp gian nan, như làm trò cho thiên hạ xem, phần thì chia khổ với những kẻ bị đối đãi đồng một cách.
34A ua aloha io hoi oukou i na mea i hoopeaia, a ua ae aku me ka oluolu, i ka hao ana aku o ko oukou waiwai, e ike ana no, aia i ka lani ka waiwai maikai aku no oukou, ka mea e oia mau ana.
34Vì anh em đã thương xót kẻ bị tù, và vui lòng chịu của cải mình bị cướp, bởi biết mình có của cải quí hơn hằng còn luôn.
35Nolaila, mai kiola aku oukou i ko oukou paulele ana, ka mea e uku nui ia mai ana.
35Vậy chớ bỏ lòng dạn dĩ mình, vốn có một phần thưởng lớn đã để dành cho.
36O ke ahonui ko oukou mea e pono ai, i loaa mai ai ia oukou ka pono i hai mua ia mai, mahope iho o ka oukou hana ana i ka makemake o ke Akua.
36Vì anh em cần phải nhịn nhục, hầu cho khi đã làm theo ý muốn Đức Chúa Trời rồi, thì được như lời đã hứa cho mình.
37A liuliu iki aku, o ka mea e hiki mai ana e hiki mai no ia, aole e hookaulua aku.
37Còn ít lâu, thật ít lâu nữa, Thì Đấng đến sẽ đến; Ngài không chậm trễ đâu.
38A o ka mea i pono, e ola no ia ma ka manaoio; aka, ina e hoi ihope kekahi, aole e oluolu ko'u uhane ia ia.
38Người công bình của ta sẽ cậy đức tin mà sống, Nhưng nếu lui đi thì linh hồn ta chẳng lấy làm đẹp chút nào.
39Aole hoi makou no ka poe hoi ihope e make ai; aka, no ka poe manaoio e ola'i ka uhane.
39Về phần chúng ta, nào phải là kẻ lui đi cho hư mất đâu, bèn là kẻ giữ đức tin cho linh hồn được cứu rỗi.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.