Hebera 5
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A O kela kahuna nui a o keia kahuna nui i hookaawaleia ae mai waena mai o kanaka, ua hooliloia no ia no na kanaka, ma na mea o ke Akua, e kaumaha aku ai i na alana a me namohai no ka hewa.
1Phàm thầy tế lễ thượng phẩm, từ trong loài người chọn ra, thì vì loài người lập nên hầu việc Đức Chúa Trời, để dâng lễ vật và hi sinh vì tội lỗi.
2E hiki no ia ia ke lokomaikai aku i ka poe naaupo, a me ka poe hele hewa; no ka mea, oia no kekahi i hoopuniia mai e ka nawaliwali;
2Người đã bị vây trong sự yếu đuối, nên có thể thương xót những kẻ ngu dốt sai lầm.
3Nolaila, e pono no e kaumaha aku oia i ka mohaihala nona iho, me ia hoi la no na kanaka.
3Aáy bởi sự yếu đuối đó mà người buộc phải vì tội lỗi mình dâng của tế lễ, cũng như vì tội lỗi của dân chúng.
4Aole hoi e lawelawe kekahi i keia nani nona iho, aka, ua hookaawaleia mai ia e ke Akua, me Aarona hoi la.
4Vả lại không ai chiếm lấy chức trọng đó cho mình; phải được Đức Chúa Trời kêu gọi như A-rôn ngày xưa.
5Pela no hoi aole o Kristo i hoonani ia ia iho e lilo i kahuna nui; aka, o ka mea i olelo iho ia ia, O oe no ka'u Keiki, i keia la no. ua hoohanau aku au ia oe;
5Cũng một thể ấy, Đấng Christ không tự tôn mình làm thầy tế lễ thượng phẩm; như tại Đấng đã phán cùng Ngài rằng: Ngươi là Con ta, Ta đã sanh ngươi ngày nay.
6Oia ka i olelo hou pela ma kekahi wahi e ae, He kahuna mau loa no oe mamuli o ke ano o Melekisedeka.
6Lại nơi khác có phán cùng Ngài rằng: Ngươi làm thầy tế lễ đời đời Theo ban Mên-chi-xê-đéc.
7Oia hoi, i na la o kona noho kino ana, ua kaumaha aku la i ka pule, a me ka nonoi ana, me ke kahea nui ana, a me na waimaka helelei, i ka mea e hiki ia ia ke hoopakele mai ia ia i ka make, a ua lohea mai oia no na mea ana i makau ai;
7Khi Đấng Christ còn trong xác thịt, thì đã kêu lớn tiếng khóc lóc mà dâng những lời cầu nguyện nài xin cho Đấng có quyền cứu mình khỏi chết, và vì lòng nhân đức Ngài, nên được nhậm lời.
8He Keiki no ia, ua ao no nae ia i ka hoolohe, ma na mea ana i ehaeha ai;
8Dầu Ngài là Con, cũng đã học tập vâng lời bởi những sự khốn khổ mình đã chịu,
9A i ka hoohemoleleia'na ona, na lilo oia i Ola e ola mau loa ai no ka poe a pau i hoolohe ia ia.
9và sau khi đã được làm nên trọn vẹn rồi, thì trở nên cội rễ của sự cứu rỗi đời đời cho kẻ vâng lời Ngài,
10Ua kapaia iho la ia e ke Akua, he kahuna nui mamuli o ke ano o Melekisedeka.
10lại có Đức Chúa Trời xưng Ngài là thầy tế lễ thượng phẩm theo ban Mên-chi- xê-đéc.
11He nui no pa mea a makou e olelo aku ai nona, aole hiki wawe ke hoomaopopo aku, no ka mea, he poe hookananuha oukou.
11Về sự đó, chúng ta có nhiều điều nên nói, và khó cắt nghĩa, vì anh em đã trở nên chậm hiểu.
12No ka mea, o ko oukou pono no e lilo i mau kumu i keia manawa, eia nae, ua kupono oukou i ke ao hou ia'ku i na hua mua o ka olelo a ko Akua; a o ka waiu ka mea e pono ai oukou, aole ka ai paa.
12Đáng lẽ anh em đã làm thầy từ lâu rồi, nay còn cần người ta lấy những điều sơ học của lời Đức Chúa Trời mà dạy anh em; anh em cần ăn sữa thay vì đồ ăn đặc.
13No ka mea, o na mea i ai wain, aole ia i akamai i ka olelo o ka pono; he keiki hou no ia.
13Vả, kẻ nào chỉ ăn sữa thôi, thì không hiểu đạo công bình; vì còn là thơ ấu.
14Aka, o ka ai paa, na ka poe oo no ia, ka poe makaukau no ka mea e ike ai i ka pono a me ka hewa.
14Nhưng đồ ăn đặc là để cho kẻ thành nhân, cho kẻ hay dụng tâm tư luyện tập mà phân biệt điều lành và dữ.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.