Hebru 5
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Kaminawk salak hoi qoih ih qaimanawk boih loe, kaminawk ih zaehaih pongah Sithaw khaeah tangqum hoiah angbawnhaih sak pae hanah tok to paek ah oh:
1Phàm thầy tế lễ thượng phẩm, từ trong loài người chọn ra, thì vì loài người lập nên hầu việc Đức Chúa Trời, để dâng lễ vật và hi sinh vì tội lỗi.
2qaima angmah to doeh thazokhaih to tawnh toeng pongah, kamthu hoi loklam amkhraeng kaminawk nuiah tahmenhaih a tawnh.
2Người đã bị vây trong sự yếu đuối, nên có thể thương xót những kẻ ngu dốt sai lầm.
3To pongah anih loe minawk han hoi angmah hanah doeh zae angbawnhaih to sak han angaih.
3Aáy bởi sự yếu đuối đó mà người buộc phải vì tội lỗi mình dâng của tế lễ, cũng như vì tội lỗi của dân chúng.
4Sithaw mah Aron kawk baktih toengah, Sithaw mah kawk ih kami ai ah loe, mi mah doeh angmah koehah hae baktih kalen qaima tok hae sah thai ai.
4Vả lại không ai chiếm lấy chức trọng đó cho mình; phải được Đức Chúa Trời kêu gọi như A-rôn ngày xưa.
5To baktih toengah Kri doeh angmah koehah kalen koek qaima ah om ai; Sithaw mah ni Anih khaeah, Nang loe ka Capa ah na oh, nang loe vaihniah kang tapen, tiah thuih.
5Cũng một thể ấy, Đấng Christ không tự tôn mình làm thầy tế lễ thượng phẩm; như tại Đấng đã phán cùng Ngài rằng: Ngươi là Con ta, Ta đã sanh ngươi ngày nay.
6Cabu thung ih ahmuen maeto ah loe Sithaw mah, Nang loe Melkisedik baktiah dungzan qaima ah na oh, tiah thuih let.
6Lại nơi khác có phán cùng Ngài rằng: Ngươi làm thầy tế lễ đời đời Theo ban Mên-chi-xê-đéc.
7Jesu loe taksa ah oh naah, duekhaih thung hoi pahlong thaih Sithaw khaeah, tha hoi hangh moe, mikkhraetui hoiah tahmen hnikhaih lawk to thuih; Sithaw zithaih hoiah kho a sak pongah lawkthuihaih lok to Sithaw mah tahngaih pae;
7Khi Đấng Christ còn trong xác thịt, thì đã kêu lớn tiếng khóc lóc mà dâng những lời cầu nguyện nài xin cho Đấng có quyền cứu mình khỏi chết, và vì lòng nhân đức Ngài, nên được nhậm lời.
8Anih loe Capa ah oh, toe patangkhanghaih hoiah lok tahngaihaih to amtuk;
8Dầu Ngài là Con, cũng đã học tập vâng lời bởi những sự khốn khổ mình đã chịu,
9to pongah anih loe akoephaih to hnuk moe, Anih tang kaminawk boih khaeah dungzan pahlonghaih paekkung ah oh;
9và sau khi đã được làm nên trọn vẹn rồi, thì trở nên cội rễ của sự cứu rỗi đời đời cho kẻ vâng lời Ngài,
10Melkisedik baktiah Jesu loe Sithaw mah kawk ih kalen koek qaima ah oh boeh.
10lại có Đức Chúa Trời xưng Ngài là thầy tế lễ thượng phẩm theo ban Mên-chi- xê-đéc.
11To kami kawng thuih han vop mang vop, toe na thaih o kop ai pongah, thuih han rai parai.
11Về sự đó, chúng ta có nhiều điều nên nói, và khó cắt nghĩa, vì anh em đã trở nên chậm hiểu.
12Vaihi loe patukkung ah na oh o han atue mah phak boeh, toe nangcae hanah Sithaw lok takung hoi patuk let kami to angaih vop; nangcae loe buh kaham caa ai ah, tahnutui ni na naek o han angai vop.
12Đáng lẽ anh em đã làm thầy từ lâu rồi, nay còn cần người ta lấy những điều sơ học của lời Đức Chúa Trời mà dạy anh em; anh em cần ăn sữa thay vì đồ ăn đặc.
13Tahnutui nae kami loe, nawkta ah oh pongah, toenghaih lok amtukhaih bangah panoekhaih tawn ai.
13Vả, kẻ nào chỉ ăn sữa thôi, thì không hiểu đạo công bình; vì còn là thơ ấu.
14Buh kaham loe kasae kahoih pathlaeng thaih, panoekhaih katawn, saning coeh kaminawk han ih ni oh.
14Nhưng đồ ăn đặc là để cho kẻ thành nhân, cho kẻ hay dụng tâm tư luyện tập mà phân biệt điều lành và dữ.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.