Hebru 3
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To pongah, van hoi kawkhaih thungah kathum, kaciim nawkamyanawk, Patoeh ih kami hoi a taphong o ih kalen koek qaima, Kri Jesu to poek oh;
1Bởi cớ đó, hỡi anh em thánh, là kẻ dự phần ơn trên trời gọi, hãy suy kỹ đến sứ giả và thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta tin theo, tức là Đức Chúa Jêsus,
2Mosi loe Sithaw imthung boih ah oepthok kami ah oh, to baktih toengah Anih doeh angmah han tok Paekkung khaeah oepthok ah oh.
2Ngài đã trung tín với Đấng đã lập Ngài, cũng như Môi-se trung tín với cả nhà Chúa vậy.
3Im pongah loe im sah kami to pakoeh han oh kue baktih toengah, Mosi pongah loe Jesu to pakoeh kue han krak.
3Vì Ngài đã được xưng là đáng vinh hiển cao trọng hơn Môi-se, chẳng khác nào thợ cất nhà được tôn trọng hơn chính cái nhà.
4Kami maeto mah im to sak; toe Sithaw loe hmuennawk boih sahkung ah oh.
4Vả, chẳng có một cái nhà nào không phải bởi có người dựng nên; mà Đấng đã dựng nên muôn vật, ấy là Đức Chúa Trời.
5Mosi loe Anih ih imthung ah oep kathok tamna ah oh moe, hmabang ah taphong han koi loknawk to Sithaw kaminawk khaeah a thuih pae.
5Còn về Môi-se, người đã trung tín trong cả nhà Chúa, như một kẻ tôi tớ, gọi đến làm chứng về điều ngày sau sẽ được rao giảng.
6Toe Kri loe angmah ih imthung ah capa ah oh; aicae doeh zithaih tawn ai ah boeng khoek to oephaih to anghoehaih hoiah kacakah a patawnh o poe nahaeloe, to imthung ih kami ah a om o tih.
6Nhưng Đấng Christ thì trung tín như con trai quản trị nhà Chúa; mà nhà Chúa tức là chúng ta, miễn là chúng ta giữ vững vàng cho đến cuối cùng lòng tin chắc và trông cậy, là sự chúng ta lấy làm vinh hiển.
7To pongah (Kacai Muithla mah thuih ih lok baktih toengah, Vaihniah a lok na thaih o nahaeloe,
7Cho nên, như Đức Thánh Linh phán rằng: Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài,
8praezaek ah kaom tanoekhaih niah, lokaek kaminawk baktiah, nangcae mah palung thah o sak hmah;
8Thì chớ cứng lòng, như lúc nổi loạn, Là ngày thử Chúa trong đồng vắng,
9toah nangcae ampanawk mah kai ang tanoek o moe, saning quipalito thung ka toksakhaih to hnuk o boeh.
9Là nơi tổ phụ các ngươi thấy công việc ta làm trong bốn mươi năm, Mà còn thử để dò xét ta!
10To pongah to kaminawk nuiah palung ka phui, Nihcae loe kasae hmuen ni a poek o tuektuek, nihcae loe kai ih loklam to panoek o ai.
10Nhân đó, ta giận dòng dõi nầy, Và phán rằng: Lòng chúng nó lầm lạc luôn, Chẳng từng biết đường lối ta.
11To pongah nihcae loe kang hakhaih thungah akun o thai mak ai, tiah palungphuihaih hoiah kasae lokkamhaih to ka sak, tiah thuih.)
11Nầy là lời thề mà ta lập trong cơn thạnh nộ, rằng: Chúng nó sẽ chẳng hề vào sự yên nghỉ của ta!
12Nawkamyanawk, nangcae thung ih mi kawbaktih mah doeh kahing Sithaw to caehtaak moe, tang han koeh ai ih kasae palungthin na tawnh o han ai ah, acoe oh.
12Hỡi anh em, hãy giữ lấy, kẻo ai trong anh em có lòng dữ và chẳng tin mà trái bỏ Đức Chúa Trời hằng sống chăng.
13Vaihni, tiah kawk ih atue ah, maeto hoi maeto ni thokkruek tha angpaek oh; to tih ai nahaeloe zae sak han alinghaih mah nangcae ih palungthin amtaaksak moeng tih.
13Nhưng hằng ngày anh em hãy khuyên bảo lẫn nhau, đang khi còn gọi là “Ngày nay,” hầu cho trong anh em không ai bị tội lỗi dỗ dành mà cứng lòng.
14Tangsuek ih tanghaih to boeng khoek to oephaih hoiah kacakah a patawnh o nahaeloe, Kri tawn kami ah a om o tih;
14Vì chúng ta đã được dự phần với Đấng Christ, miễn là giữ lòng tin ban đầu của chúng ta cho vững bền đến cuối cùng,
15cabu mah, Vaihniah a lok na thaih o nahaeloe, lokaekhaih dung ih baktiah, na palungthin amtaak o sak hmah, tiah thuih.
15trong khi còn nói rằng: Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, Thì chớ cứng lòng, như lúc nổi loạn.
16Lok thaih pacoengah aek kaminawk loe mi aa? Nihcae loe Izip prae thung hoi angzo Mosi mah hoih ih kaminawk na ai maw?
16Vả, ai là kẻ nghe tiếng Ngài rồi nổi loạn, há chẳng phải những người nhờ Môi-se dẫn ra khỏi xứ Ê-díp-tô sao?
17Mi mah maw saning quipalito thung Sithaw palungphui sak? Zaehaih sak pongah praezaek ah kadueh kaminawk mah na ai maw palung phuisak?
17Đức Chúa Trời đã giận ai trong bốn mươi năm? Há chẳng phải giận những kẻ phạm tội, mà thây họ đã ngã trong đồng vắng sao?
18Nihcae loe Anih anghakhaih thungah akun o thai mak ai, tiah mi khaeah maw Sithaw mah kasae lokkamhaih to sak, katang ai kaminawk khaeah na ai maw a sak?
18Ngài lại thề với ai rằng không được vào sự yên nghỉ của Ngài? Há chẳng phải với những người không vâng lời sao?
19Tang o ai pongah nihcae loe a thungah akun o thai mak ai, tito a panoek o.
19Vả, chúng ta thấy những người ấy không thể vào đó được vì cớ không tin.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.