Hebrew 3
Bible Mutal (Kosraean)Translation
Bible Mutal (Kosraean)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Mwet Christian wiuk, su pangonyuk pac sin God! Kowos in nunku ke Jesus, su God El supwama tuh in Mwet Tol Fulat ke lulalfongi se ma kut fahkak kac.
1Bởi cớ đó, hỡi anh em thánh, là kẻ dự phần ơn trên trời gọi, hãy suy kỹ đến sứ giả và thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta tin theo, tức là Đức Chúa Jêsus,
2El tuh oaru in oru ma kunal nu sin God, su tuh sulella in oru orekma se inge, oana ke Moses el tuh oaru in oru orekma kunal in lohm sin God.
2Ngài đã trung tín với Đấng đã lập Ngài, cũng như Môi-se trung tín với cả nhà Chúa vậy.
3Sie mwet musa lohm el akfulatyeyuk yohk liki lohm sac. In ouiya se pacna inge, fal in akfulatyeyuk Jesus yohk lukel Moses.
3Vì Ngài đã được xưng là đáng vinh hiển cao trọng hơn Môi-se, chẳng khác nào thợ cất nhà được tôn trọng hơn chính cái nhà.
4Aok pwaye lah lohm nukewa musaiyuk sin mwet — ac God pa musaela ma nukewa.
4Vả, chẳng có một cái nhà nào không phải bởi có người dựng nên; mà Đấng đã dựng nên muôn vật, ấy là Đức Chúa Trời.
5Moses el tuh sie mwet kulansap oaru in lohm sin God, ac el tuh kaskaskin ma su God El ac mau fahk in pacl fahsru uh.
5Còn về Môi-se, người đã trung tín trong cả nhà Chúa, như một kẻ tôi tớ, gọi đến làm chứng về điều ngày sau sẽ được rao giảng.
6A Christ El oaru oana ke el pa Wen, su leum fin lohm sin God. Kut pa lohm sel kut fin sruokyana ku pulaik lasr ac lulalfongi lasr ke ma kut finsrak nu kac.
6Nhưng Đấng Christ thì trung tín như con trai quản trị nhà Chúa; mà nhà Chúa tức là chúng ta, miễn là chúng ta giữ vững vàng cho đến cuối cùng lòng tin chắc và trông cậy, là sự chúng ta lấy làm vinh hiển.
7Ke ma inge, in oana ke Ngun Mutal el fahk, “Kowos fin lohng pusren God misenge,
7Cho nên, như Đức Thánh Linh phán rằng: Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài,
8Kowos in tia akupaye insiowos, oana mwet matu lowos elos tuh oru ke elos forla lain God, Oana ke elos tuh oru ke len se elos tuh srikal yen mwesis.
8Thì chớ cứng lòng, như lúc nổi loạn, Là ngày thử Chúa trong đồng vắng,
9Ac God El fahk, In acn mwesis uh elos tuh srikeyu, Elos ne liye ma nga oru nu selos ke yac angngaul.
9Là nơi tổ phụ các ngươi thấy công việc ta làm trong bốn mươi năm, Mà còn thử để dò xét ta!
10Ouinge nga tuh arulana toasr sin mwet ingo ac sifacna fahk, ‘Pacl nukewa elos likkeke, Ac srangesr akos ma sap luk!’
10Nhân đó, ta giận dòng dõi nầy, Và phán rằng: Lòng chúng nó lầm lạc luôn, Chẳng từng biết đường lối ta.
11Nga tuh kasrkusrak selos ac orala wulela na ku luk: ‘Elos ac fah tiana utyak nu in facl se ma nga akoo in sang mongla nu selos we!’”
11Nầy là lời thề mà ta lập trong cơn thạnh nộ, rằng: Chúng nó sẽ chẳng hề vào sự yên nghỉ của ta!
12Mwet lulalfongi wiuk, kowos in arulana liyaung tuh in tia oasr sie inmasrlowos su inse koluk ac selulalfongi, pwanang el forla liki God moul.
12Hỡi anh em, hãy giữ lấy, kẻo ai trong anh em có lòng dữ và chẳng tin mà trái bỏ Đức Chúa Trời hằng sống chăng.
13In tia ouinge, a ke lusen na pacl ma kas se inge “Misenge,” su oan in Ma Simusla, ma nu sesr — na kowos in kasru sie sin sie len nukewa, tuh in wangin sie suwos kiapeyukla ke ma koluk ac ekla sie mwet likkeke.
13Nhưng hằng ngày anh em hãy khuyên bảo lẫn nhau, đang khi còn gọi là “Ngày nay,” hầu cho trong anh em không ai bị tội lỗi dỗ dành mà cứng lòng.
14Lulalfongi lasr tuh arulana ku ke kut tufahna mutawauk in eis Christ. Lela kut in sruokya ku lulalfongi se inge nu ke safla, na kut fah ku in mwet ipeis pwaye yurin Christ.
14Vì chúng ta đã được dự phần với Đấng Christ, miễn là giữ lòng tin ban đầu của chúng ta cho vững bền đến cuối cùng,
15Pa inge ma fahk in Ma Simusla uh: “Kowos fin lohng pusren God misenge, Kowos in tia akupaye insiowos, oana mwet matu lowos elos tuh oru Ke elos forla lain God.”
15trong khi còn nói rằng: Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, Thì chớ cứng lòng, như lúc nổi loạn.
16Su mwet ma tuh lohng pusren God ac forla lainul ah? Elos pa mwet nukewa su Moses el tuh kolla liki acn Egypt.
16Vả, ai là kẻ nghe tiếng Ngài rồi nổi loạn, há chẳng phải những người nhờ Môi-se dẫn ra khỏi xứ Ê-díp-tô sao?
17Ac su God El tuh kasrkusrak se ke yac angngaul ah? Elos su orekma koluk, su putatla ac misa in acn mwesis ah.
17Đức Chúa Trời đã giận ai trong bốn mươi năm? Há chẳng phải giận những kẻ phạm tội, mà thây họ đã ngã trong đồng vắng sao?
18Ke God El tuh orala wulela ku se lal ma fahk mu, “Elos ac fah tiana utyak nu in facl se ma nga akoo in sang mongla nu selos we” — su El tuh kaskas kac inge? Kaclos su forla lainul.
18Ngài lại thề với ai rằng không được vào sự yên nghỉ của Ngài? Há chẳng phải với những người không vâng lời sao?
19Ke ma inge kut liye lah elos tuh tia ku in utyak nu in facl sac mweyen elos tuh tia lulalfongi.
19Vả, chúng ta thấy những người ấy không thể vào đó được vì cớ không tin.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.