Hebru
Chapter 6
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To pongah Kri kawng amtuk tangsuekhaih ah kaom kadueh toksakhaih thung hoi dawnpakhuemhaih kawng, Sithaw tanghaih kawng,
1Aáy vậy, chúng ta phải bỏ qua các điều sơ học về Tin Lành của Đấng Christ, mà tấn tới sự trọn lành, chớ nên lập lại nền nữa, tức là: từ bỏ các việc chết, tin Đức Chúa Trời,
2tuinuemhaih kawng, bankoenghaih kawng, kadueh kami angthawk lethaih kawng, dungzan lokcaekhaih kawngnawk to caeh o tak si loe, akoep thai hanah hmabang ah caeh o si boeh.
2sự dạy về phép báp têm, phép đặt tay, sự kẻ chết sống lại, sự phán xét đời đời.
3Sithaw mah araem tih nahaeloe, to hmuennawk to a sah o tih hmang.
3Ví bằng Đức Chúa Trời cho phép, thì chúng ta sẽ làm điều đó.
4Aanghaih mah vaito toeh boeh moe, van bang ih tangqum doeh pataengh tangcae, Kacai Muithla ah kaom tangcae,
4Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Đức Thánh Linh,
5kahoih Sithaw lok doeh pataengh tangcae, angzo han koi thacakhaihnawk doeh pataengh tangcae kaminawk loe,
5nếm đạo lành Đức Chúa Trời, và quyền phép của đời sau,
6amtim o ving nahaeloe, nihcae dawnpakhuemsak let hanah angcoeng thai ai boeh; nihcae loe Sithaw Capa to thinglam pongah kangtha ah takhing o let moe, Anih to azat kathok ah a sak o.
6nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường.
7A nuiah kakrah khotui kanae long mah lawk tawnkung hanah aan kahingnawk to amprawksak moe, Sithaw khae hoi tahamhoihaih to hnuksak:
7Vả, một đám đất nhờ mưa đượm nhuần mà sanh cây cỏ có ích cho người cày cấy, thì đất đó hưởng phần phước lành của Đức Chúa Trời.
8toe soekhring hoi phroh khue tacawtsak lawk loe pahnong sut tih, tangoenghaih atue phak tom boeh pongah, hnukkhuem ah to lawk to hmai hoiah thlaek tih.
8Nhưng đất nào chỉ sanh ra những cỏ rạ, gai gốc, thì bị bỏ, và hầu bị rủa, cuối cùng phải bị đốt.
9Toe palung ih ampuinawk, nangcae loe kahoih kue hmuennawk hoi pahlonghaih kaom hmuen bangah na oh o hanah kang koeh o haih pongah, hae tiah lok kang thuih o.
9Hỡi những kẻ rất yêu dấu, dẫu chúng ta nói vậy, vẫn còn đang trông đợi những việc tốt hơn từ nơi anh em, là những việc đưa đến sự cứu rỗi.
10Nangcae loe ciimcai kaminawk khetzawnhaih tok to na sak o, to bak tih amlunghaih toksakhaih rang hoiah Anih ih ahmin to nam tueng o sak, na sak o ih toknawk loe Sithaw mah pahnet ai.
10Đức Chúa Trời không phải là không công bình mà bỏ quên công việc và lòng yêu thương của anh em đã tỏ ra vì danh Ngài, trong khi hầu việc các thánh đồ và hiện nay đang còn hầu việc nữa.
11Oephaih hoiah akoep thai hanah boeng khoek to hae tiah tha na pathok o moe,
11Nhưng chúng ta mong rằng mỗi người trong anh em tỏ lòng sốt sắng như vậy, đặng giữ lòng đầy dẫy sự trông cậy cho đến cuối cùng;
12thasae ai ah tanghaih hoi palungsawkhaih hoiah lokkamhaih qawktoep kaminawk ih hnukbang kami ah na oh o thai boih hanah kang koeh o haih.
12đến nỗi anh em không trễ nải, nhưng cứ học đòi những kẻ bởi đức tin và lòng nhịn nhục mà được hưởng lời hứa.
13Sithaw mah Abraham khaeah lokkamhaih sak naah, angmah pong kalen kue mi doeh om ai pongah, angmah hoi angmah lokkamhaih to sak.
13Khi Đức Chúa Trời hứa cùng Aùp-ra-ham, và vì không thể chỉ Đấng nào lớn hơn, nên Ngài chỉ chính mình Ngài mà thề với người rằng:
14Nang to taham kang hoisak moe, kang pungsak han, tiah a naa.
14Chắc ta sẽ ban phước cho ngươi nhiều, và khiến hậu tự ngươi sanh sản đông thêm.
15Abraham mah palungsawkhaih hoiah zing pacoengah, lokkamhaih to a hnuk.
15Aáy, Aùp-ra-ham đã nhịn nhục đợi chờ như vậy, rồi mới được điều đã hứa.
16Kaminawk loe angmah pong kalen kue hoiah ni lokkamhaih to sak o: to kacak lokmaihaih mah lok angaekhaihnawk boih to boengsak.
16Người ta thường mượn danh một Đấng lớn hơn mình mà thề, phàm có cãi lẫy điều gì, thì lấy lời thề mà định.
17Sithaw loe sak koeh ih hmuen nuiah poek amkhrai thai ai, tiah lokkam ih qawktoep han kaom kaminawk panoeksak hanah, Sithaw mah kacak lokkamhaih to sak:
17Đức Chúa Trời cũng vậy, muốn càng tỏ ra cho những kẻ hưởng lời hứa biết ý định Ngài là chắc chắn không thay đổi, thì dùng lời thề;
18to hmuen hnetto loe amkhrai thai ai, aicae hma ah suek ih oephaih to patawnh moe, abuep han kacawn aicae mah kalen monghaih a tawnh o thai hanah, Sithaw loe lok amlai thai ai:
18hầu cho nhờ hai điều chẳng thay đổi đó, -và về hai điều ấy Đức Chúa Trời chẳng có thể nói dối, mà chúng ta tìm được sự yên ủi lớn mạnh, là kẻ đã trốn đến nơi ẩn náu, mà cầm lấy sự trông cậy đã đặt trước mặt chúng ta.
19to oephaih loe thacak moe, oepthoh, taai ha baktiah kaom sum baktih toengah aicae pakhra anghakhaih ah oh, oephaih loe payang ih kahni thung khoek to akunh;
19Chúng ta giữ điều trông cậy nầy như cái neo của linh hồn, vững vàng bền chặt, thấu vào phía trong màn,
20Melkhizedik baktih toengah, dungzan ah kalen qaima Jesu loe aicae hma ah caeh moe, aicae hanah a thungah akun boeh.
20trong nơi thánh mà Đức Chúa Jêsus đã vào như Đấng đi trước của chúng ta, vì đã trở nên thầy tế lễ thượng phẩm đời đời, theo ban Mên-chi-xê-đéc.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.