Hebru
Chapter 12
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To pongah aicae loe kathah parai tamai baktiah hnukungnawk mah ven pongah, aicae han hmuenzit ah kaom hmuen hoi sak kazoi zaehaih to takhoe o ving si loe, aicae hma ah kaom anghakhaih ahmuen ah a phak o thai hanah, palungsawkhaih hoiah cawn o si,
1Thế thì, vì chúng ta được nhiều người chứng kiến vây lấy như đám mây rất lớn, chúng ta cũng nên quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương ta, lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta,
2aicae tanghaih takung hoi akoephaih ah kaom Jesu to khen o si; anih hmaa ah suek ih anghoehaih pongah, Anih mah azathaih to poek ai ah, thinglam pongah patangkhang, vaihi loe Sithaw angraeng tangkhang bantang bangah anghnut boeh.
2nhìn xem Đức Chúa Jêsus, là cội rễ và cuối cùng của đức tin, tức là Đấng vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục, và hiện nay ngồi bên hữu ngai Đức Chúa Trời.
3Poek nang pho o moe, tha na hnaem o han ai ah, kazae kaminawk mah pacaekthlaek ih Anih to poek oh.
3Vậy, anh em hãy nghĩ đến Đấng đã chịu sự đối nghịch của kẻ tội lỗi dường ấy, hầu cho khỏi bị mỏi mệt sờn lòng.
4Zaehaih misa na tuk o naah, athii long khoek to misa na tuh o vai ai vop.
4Anh em chống trả với tội ác còn chưa đến nỗi đổ huyết;
5Anih mah, Ka capa, Angraeng mah thuitaekhaih to patoek hmah, ang zoeh naah palungboeng hmah: a caanawk thuitaek baktiah ang thuih o ih thapaekhaih loknawk to na pahnet o boeh, tiah thuih.
5lại đã quên lời khuyên anh em như khuyên con, rằng: Hỡi con, chớ dể ngươi sự sửa phạt của Chúa, Và khi Chúa trách, chớ ngã lòng;
6Angraeng mah palung ih kami to thuitaek moe, a caa baktiah talawk ih kami to danpaek.
6Vì Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu, Hễ ai mà Ngài nhận làm con, thì cho roi cho vọt.
7A thuitaekhaih to na pauep o naah, anih mah caanawk khetzawn baktiah ni ang khetzawn o; ampa mah thuitaek ai ih caa mi maw kaom?
7Ví bằng anh em chịu sửa phạt, ấy là Đức Chúa Trời đãi anh em như con, vì có người nào là con mà cha không sửa phạt?
8Caanawk boih thuithaekhaih baktih toengah, thuitaekhaih to na tong o ai nahaeloe, nangcae loe a caa tangtang na ai ni, payang caa ah ni na oh o.
8Nhưng nếu anh em được khỏi sự sửa phạt mà ai nấy cũng phải chịu, thì anh em là con ngoại tình, chớ không phải con thật.
9To khue ai aicae loe thuitaekkung taksa ampa to a tawnh o, nihcae to saiqathaih a paek o: to tiah nahaeloe dungzan ah kahing Muithla bang ih aicae ampa mah thuitaekhaih cae loe kawkruk maw saiqathaih a paek o aep han oh?
9Cha về phần xác sửa phạt, mà chúng ta còn kính sợ thay, huống chi Cha về phần hồn, chúng ta há chẳng càng nên vâng phục lắm để được sự sống sao?
10Aicae ampanawk mah loe angmacae koehhaih baktiah oh hanah ni atue setta thung ang thuitaek o; toe Anih mah loe atho kaom, angmah ciimcaihaih baktiah oh thai han ih ni ang thuitaek o.
10Vả, cha về phần xác theo ý mình mà sửa phạt chúng ta tạm thời, nhưng Đức Chúa Trời vì ích cho chúng ta mà sửa phạt, để khiến chúng ta được dự phần trong sự thánh khiết Ngài.
11Thuitaek nathuem ah loe, mi mah doeh anghoehaih tawn mak ai, palungset koiah ni oh: toe thuitaek ih kaminawk loe hnukkhuemah monghaih kaom toenghaih thingthai to hnuk o.
11Thật các sự sửa phạt lúc đầu coi như một cớ buồn bã, chớ không phải sự vui mừng; nhưng về sau sanh ra bông trái công bình và bình an cho những kẻ đã chịu luyện tập như vậy.
12To pongah thacak ai ban hoi khokkhunawk to thacak o sak ah;
12Vậy, hãy dở bàn tay yếu đuối của anh em lên, luôn cả đầu gối lỏng lẻo nữa.
13khok angbai kami to ngantui moe, lamcaeh thai ai kami ah oh han ai ah, katoeng na khok caehhaih loklam to paroep oh.
13Khá làm đường thẳng cho chân anh em theo, hầu cho kẻ nào què khỏi lạc đường mà lại được chữa lành nữa.
14Kaminawk boih hoi angdaeh oh loe, ciimcaihaih loklam to pazui oh, ciimcai ai ah loe mi mah doeh Angraeng to hnu thai mak ai:
14Hãy cầu sự bình an với mọi người, cùng tìm theo sự nên thánh, vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời.
15acoehaih hoiah khen oh, to tih ai nahaeloe Sithaw tahmenhaih hnu ai ah na om o moeng tih; paroeai kaminawk amhnongsak hanah, kakhaa thing tangzun hoiah tadok tacawt tahang ueloe, raihaih na paek o moeng tih;
15Khá coi chừng kẻo có kẻ trật phần ân điển của Đức Chúa Trời, kẻo rễ đắng châm ra, có thể ngăn trở và làm ô uế phần nhiều trong anh em chăng.
16tamquta hoi nongpa nongpata zaehaih sah kami baktiah maw, to tih ai boeh loe vaito caak han koi buh zetta hoiah caa lu ah ohhaih zaw kami Esau baktih, Sithaw saiqathaih tawn ai kamhnong kami ah na om o moeng tih.
16Hãy coi chừng, cho trong anh em chớ có ai gian dâm, cũng đừng có ai khinh lờn như Ê-sau, chỉ vì một món ăn mà bán quyền con trưởng.
17Na panoek o baktih toengah, to tiah oh pacoengah, Esau mah tahamhoihhaih qawk to a koeh let, anih mah mikkhraetui krak khoek to hnik cadoeh ampa poekhaih to amkhrai ai, anih to pahnawt sut.
17Thật vậy, anh em biết rằng đến sau, người muốn cha mình chúc phước cho, thì lại bị bỏ; vì dẫu người khóc lóc cầu xin, cũng chẳng đổi được ý cha mình đã định rồi.
18Nangcae loe ban hoi sui thai koiah kaom mae ah doeh, hmai angqonghaih ahmuen ah doeh, tamai kamnum hoi khoving ohhaih ahmuen ah doeh, takhisae songhaih ahmuen ah doeh,
18Anh em chẳng tới gần một hòn núi mà người ta có thể rờ đến được, cũng chẳng đến gần lửa hừng, hoặc tối tăm, hoặc âm ế, hoặc gió dữ,
19mongkah tuen hoi lok katuen ahmuen ah doeh na caeh o ai; to lok kathaih kaminawk mah nihcae khaeah lok thuih pae let han ai ah tahmenhaih hnik o:
19hoặc tiếng loa thổi vang, hoặc tiếng nói kinh khiếp đến nỗi ai nghe đều nài xin đừng nói với mình nữa;
20(moi kasan mah mataeng doeh to mae to sui nahaeloe, thlung hoiah vah mat han oh, to tih ai boeh loe tazae hoiah thun han oh, tiah kaom lokpaekhaih to nihcae mah pazui o thai ai:
20vì họ không chịu nổi lời phán nầy: Dẫu loài thú vật tới gần núi nầy cũng sẽ bị ném đá.
21to tiah a hnuk o ih hmuen loe zitthoh parai pongah Mosi mah, Ka zit loiah ka tasoeh,) tiah thuih.
21Lại cảnh trạng đó rất kinh khiếp, đến nỗi Môi-se nói rằng: Ta thật sợ sệt và run rẩy cả người.
22Toe nangcae loe Zion mae ah, kahing Sithaw ih vangpui van Jerusalem ah, kroek laek ai ah kamkhueng van kaminawk khaeah,
22Nhưng anh em đã tới gần núi Si-ôn, gần thành của Đức Chúa Trời hằng sống, tức là Giê-ru-sa-lem trên trời, gần muôn vàn thiên sứ nhóm lại,
23kaminawk boih amkhuenghaih ahmuen ah, van ah ahmin kaom tapen tangsuek kricaabunawk khaeah, kaminawk boih lokcaekkung Sithaw khaeah, akoephaih thungah kaom katoeng kaminawk ih muithla khaeah,
23gần Hội thánh của những con trưởng được ghi tên trong các từng trời, gần Đức Chúa Trời, là quan án của mọi người, gần các linh hồn người nghĩa được vẹn lành,
24Abel ih athii pongah kahoih kue athii kraihaih kawng kathui, lokmaihaih kangtha Laicaeh Jesu khaeah ni na caeh o.
24gần Đức Chúa Jêsus, là Đấng trung bảo của giao ước mới, và gần huyết rưới ra, huyết đó nói tốt hơn huyết của A-bên vậy.
25Nangcae khaeah lokthui kami ih lok to aek han ai ah acoe oh. Long ah lok kathui Mosi ih lok to aek o pongah, nihcae loe hraemhaih thung hoiah loih o thai ai nahaeloe, van hoiah lok kathui Anih ih lok to aicae mah angqoi o taak nahaeloe, kawkruk maw aicae loe hraemhaih thung hoi loih thai ai ah a om o aep tih:
25Anh em hãy giữ, chớ từ chối Đấng phán cùng mình; vì nếu những kẻ kia cự Đấng truyền lời báo cáo ở dưới đất, còn không tránh khỏi thay, huống chi chúng ta, nếu cự Đấng truyền lời báo cáo từ trên trời, thì càng không tránh khỏi được.
26To ih lok atuen mah long to anghuensak: toe vaihi loe long khue na ai, van doeh kang huensak let han, tiah a thuih.
26Tiếng Đấng ấy bây giờ rúng động cả đất, hiện nay phán hứa rằng: Còn một lần nữa, ta sẽ chẳng những rúng động đất mà thôi, nhưng cũng rúng động trời nữa.
27Vaito anghuensak let han, tiah thuih koehhaih loe, Anghuen thai ai hmuennawk oh o poe thai hanah, sak ih hmuennawk to anghuensak boih ueloe, takhoe boih tih, tih haih ih ni.
27Vả, trong những chữ: Còn một lần nữa, tỏ ra rằng các vật hay bị rúng động, vì là những vật đã chịu dựng nên, sẽ bị cất đi, hầu cho những vật không hề rúng động được còn lại.
28Aicae loe anghuen thai ai prae to a hnuk o pongah, saiqathaih hoi zithaih hoiah Sithaw tok a sak o thai hanah, tahmenhaih to tawn o si.
28Như vậy, vì chúng ta có phần trong một nước không hay rúng động, nên hãy cảm ơn, hầu cho lấy lòng kính sợ hầu việc Đức Chúa Trời một cách đẹp lòng Ngài;
29Aicae ih Sithaw loe kangqong hmai ah oh.
29vì Đức Chúa Trời chúng ta là đám lửa hay thiêu đốt.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.