Hebera
Chapter 9
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1HE mau oihana no hoi ka ka berita mua, no ka hoomana ana, a me kahi hoano ma ka honua.
1Ước trước cũng có những luật về việc thờ phượng và một nơi thánh dưới đất.
2No ka mea, ua hanaia no he halelewa; o ka mua kahi i waihoia'i ka ipukukui, a me ka papa, a me ka berena hoike; ua kapaia ia o kahi hoano.
2Vả, một đền tạm đã dựng lên: phần thứ nhất gọi là nơi thánh, có chân đèn, bàn và bánh bày ra;
3A mahope o ka palelua, ka halelewa i kapaia ka hoano loa.
3rồi đến phía trong màn thứ hai, tức là phần gọi là nơi rất thánh,
4Malaila ke kapuahi gula, a me ka pahuberita i uhiia i ke gula a puni, kahi i waihoia'i ka ipu gula o ka mane, a me ko Aarona kookoo, ka mea i opuu ae, a me na papa kanawai;
4có lư hương bằng vàng và hòm giao ước, toàn bọc bằng vàng. Trong hòm có một cái bình bằng vàng đựng đầy ma-na, cây gậy trổ hoa của A-rôn, và hai bảng giao ước;
5A maluna iho ona na kerubima nani e hoomalumalu ana i ka noho aloha; aole hiki ia makou ke olelo maopopo loa i keia mau mea, ano.
5phía trên có hai chê-ru-bin vinh hiển, bóng nó che phủ nơi chuộc tội. Nhưng đây không phải dịp kể các điều đó cho rõ ràng.
6A hoomakaukauia pela ua mau mea la, ua komo mau na kahuna i ka halelewa mua e hooko ana i na oihana.
6Các vật đã sắp đặt như vậy, hằng ngày những thầy tế lễ vào phần thứ nhất trong đền tạm, đặng làm trọn việc tế lễ;
7Aka, iloko o ka lua i komo ai ke kahuna nui wale no, pakahi wale no ke komo ana i ka makahiki, aole me ke koko ole, ka mea ana i kaumaha aku ai nona iho, a no na hewa hoi o na kanaka.
7nhưng, phần thứ hai, thì mỗi năm một lần chỉ một mình thầy tế lễ thượng phẩm vào, chẳng bao giờ mà không đem huyết dâng vì chính mình và vì sự lầm lỗi dân chúng.
8Ma ia mea i hoakaka mai ai ka Uhane Hemolele, aole i weheia kahi e komo ai i ka hoano loa, i ka wa i ku ai ka halelewa mua;
8Đức Thánh Linh lấy đó chỉ ra rằng hễ đền tạm thứ nhất đang còn, thì đường vào nơi rất thánh chưa mở.
9He aka no ia a hiki i keia manawa, kahi i kaumahaia aku ai na alana a me na mohai, na mea i hiki ole ke hoomaopopo loa i ka pono ma ka naau o ka mea nana ia oihana;
9Aáy là một hình bóng chỉ về đời bây giờ, để tỏ rằng các lễ vật và hi sinh dâng đó, không có thể làm cho kẻ thờ phượng được vẹn lành về lương tâm.
10Na oihana ma ke kino, ma ka mea ai, a me ka mea inu, a me kela holoi ana, a me keia holoi ana, i kauohaia mai a hiki i ka manawa e hooponopono hou ia ai.
10Đó chẳng qua là mạng lịnh của xác thịt, cũng như các lễ ăn, uống, rửa sạch, chỉ lập cho đến kỳ hoán cải vậy.
11Aka, i ka hiki ana mai o Kristo, o ke kahuna nui no ka pono e hiki mai ana, ma ka halelewa nui ae, hemolele loa, aole i hanaia e na lima, aole ia no keia ao.
11Nhưng Đấng Christ đã hiện đến, làm thầy tế lễ thượng phẩm của những sự tốt lành sau nầy; Ngài đã vượt qua đền tạm lớn hơn và trọn vẹn hơn, không phải tay người dựng ra, nghĩa là không thuộc về đời nầy;
12Hookahi wale no kona komo ana iloko o kahi hoano, aole me ke koko o na kao a me na bipikane, aka, me kona koko ponoi no, e loaa ana ka mea e ola mau ai.
12Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời.
13A ina i hoohuikala ke koko o na bipikane, a me na kao, a me ka lehu o ka bipiwahine, e pipi ana i ka mea haumia, i maemae ai ke kino;
13Vì nếu huyết của dê đực bò đực cùng tro bò cái tơ mà người ta rưới trên kẻ ô uế còn làm sạch được phần xác thịt họ và nên thánh thay,
14E hiki loa aku i ke koko o Kristo, o ka mea i kaumaha aku ia ia iho i ke Akua ma ka Uhane mau loa me ke kina ole, ke hoohuikala i ko oukou naau i na hana e make ai, e malama aku ai i ke Akua ola.
14huống chi huyết của Đấng Christ, là Đấng nhờ Đức Thánh Linh đời đời, dâng chính mình không tì tích cho Đức Chúa Trời, thì sẽ làm sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết, đặng hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống, là dường nào!
15No ia mea, ua lilo oia i uwao no ka berita hou, a i ka lilo ana o kona make ana i uku hoola no na hewa i hanaia ma ka berita mua, e hiki ai i ka poe i kaheaia ke loaa ka hooilina mau i hai mua ia mai.
15Nhân đó, Ngài là Đấng trung bảo của giao ước mới, để khi Ngài chịu chết mà chuộc tội đã phạm dưới giao ước cũ, thì những kẻ được kêu gọi nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình.
16A ina he kauoha hooilina, e manaoia ana ua make ka mea nana ke kauoha i paa'i.
16Vì khi có chúc thơ, thì cần phải đợi đến kẻ trối chết đã.
17No ka mea, o ke kauoha, ua paa loa ia mahope wale no o ka make ana o kanaka, aole ia i paa i ka wa e ola ana ka mea nana ke kauoha.
17Chúc thơ chỉ có giá trị sau lúc chết, vì hễ kẻ trối còn sống thì nó không có quyền gì.
18Nolaila, aole i hoopaaia ka berita mua me ke koko ole.
18Aáy vậy, chính giao ước trước nào chẳng phải là không dùng máu mà lập.
19No ka mea, a pau na kauoha ma ke kanawai i ka heluheluiae Mose, i ka poe kanaka a pau, lawe iho la ia i ke koko o na bipikane, a me na kao, a me ka wai, a me ka huluhulu ula, a me ka husopa, a kopipi iho la i ka buke a me ka poe kanaka a pau,
19Lúc Môi-se phán mọi điều răn của luật pháp cho dân chúng, có lấy máu của bò con và dê đực, với nước, dây nhung đỏ tía và nhành ngưu tất rảy trên sách cùng trên cả dân chúng,
20I iho la, Eia ke koko o ka berita a ke Akua i kauoha mai ai ia oukou.
20mà nói rằng: Nầy là huyết của sự giao ước mà Đức Chúa Trời đã dạy lập với các ngươi.
21Pela hoi i kopipi aku ai me ke koko i ka halelewa, a me na ipu a pau o ia oihana.
21Đoạn, người cũng lấy huyết rảy đền tạm cùng mọi đồ thờ.
22Aneane pau na mea ma ke kanawai i ka hoomaemaeia i ke koko; aohe kala ana ke hookahe ole ia ke koko.
22Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch: không đổ huyết thì không có sự tha thứ.
23Nolaila, ua kupono e hoohuikalaia na kumu hoohalike i ko ka lani, ma ia mau mea; aka, o ko ka lani mau mea ma na mohai maikai aku.
23Vậy, nếu những tượng chỉ về các vật trên trời đã phải nhờ cách ấy mà được sạch, thì chính các vật trên trời phải nhờ của lễ càng quí trọng hơn nữa để được sạch.
24No ka mea, aole o Kristo i komo iloko o ka halelewa i hanaia e na lima, he aka wale no no ka mea oiaio; aka, iloko o ka lani ponoi i hoike mau ia ia iho ma ke alo o ke Akua no kakou.
24Vả Đấng Christ chẳng phải vào nơi thánh bởi tay người làm ra, theo kiểu mẫu nơi thánh thật, bèn là vào chính trong trời, để bây giờ vì chúng ta hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời.
25Aole no hoi no ke kaumaha pinepine ana ia ia iho, e like me ka ke kahuna nui komo ana i kela makahiki a i keia makahiki iloko o kahi hoano me ke koko, aole o kona iho;
25Aáy chẳng phải là dâng chính mình Ngài nhiều lần, như thầy tế lễ thượng phẩm mỗi năm vào trong nơi rất thánh mà dâng huyết không phải là huyết mình;
26Ina pela, ina ua make pinepine oia mai ka hookumu ana mai o ke ao nei; aka, ano, ma keia hope o ke ao, ua hoike hookahi mai oia ia ia iho no ka hoomaemae aua i ka hewa ma ka mohai ana ia ia iho.
26bằng chẳng vậy, thì từ buổi sáng thế đến nay, Ngài đã phải chịu khổ nhiều lần rồi. Nhưng hiện nay đến cuối cùng các thời đại, Ngài đã hiện ra chỉ một lần, dâng mình làm tế lễ để cất tội lỗi đi.
27A ua hoomaopopoia ka make hookahi ana o na kanaka, a ma ia hope aku ka hoopai ana:
27Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét,
28Pela hoi o Kristo, a pau kona hoolilo hookahi ana ia ia iho i mohai e halihali aku i ka hewa o ka lehulehu, e ike hou ia oia me ka mohai ole, i ka lua o kona hiki ana mai, e ola'i ka poe e kiai ana ia ia.
28cũng vậy, Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi cho kẻ chờ đợi Ngài.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.