Men Ipru
Chapter 9
Kadede Kap (Pohnpeian Ne…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A inau kaieu pil a kujoned en wia jaraui mia, o pera jaraui me janjal.
1Ước trước cũng có những luật về việc thờ phượng và một nơi thánh dưới đất.
2Pwe im likau eu wiauier, a ni pali liki lamp mia, o tepel, o prot en kajanjal; iei waja, me adaneki waja jaraui;
2Vả, một đền tạm đã dựng lên: phần thứ nhất gọi là nơi thánh, có chân đèn, bàn và bánh bày ra;
3A palila jan pera, ilolon, i waja me adaneki waja jaraui melel.
3rồi đến phía trong màn thứ hai, tức là phần gọi là nơi rất thánh,
4Iei wajan pei jaraui kold en kijiniai o kopa en inau, me kitimeki pena kold waja karoj, a dal kold ianaki mana, o en Aron a jokon, me majel pajan, o jlet en inau.
4có lư hương bằng vàng và hòm giao ước, toàn bọc bằng vàng. Trong hòm có một cái bình bằng vàng đựng đầy ma-na, cây gậy trổ hoa của A-rôn, và hai bảng giao ước;
5A ponanin kopa o Kerupin en linan mia, me kompwaledi wajan tom. A anjau wet i jota pan padaki on komail due.
5phía trên có hai chê-ru-bin vinh hiển, bóng nó che phủ nơi chuộc tội. Nhưng đây không phải dịp kể các điều đó cho rõ ràng.
6A mepukat karoj lao onoper, jamero kan kin pedelon on nan im likau moa kapwaiada dodok on Kot anjau karoj.
6Các vật đã sắp đặt như vậy, hằng ngày những thầy tế lễ vào phần thứ nhất trong đền tạm, đặng làm trọn việc tế lễ;
7A nan im likau kariau jamero lapalap eta kotilon on kelep pan me pak nan par eu ianaki nta, me a tom kida pein dip a o dip en aramaj akan.
7nhưng, phần thứ hai, thì mỗi năm một lần chỉ một mình thầy tế lễ thượng phẩm vào, chẳng bao giờ mà không đem huyết dâng vì chính mình và vì sự lầm lỗi dân chúng.
8I me Nen jaraui kotin kajanjale kida, me al en nan pera jaraui melel jaikenta wiauier, arain im likau moa mia.
8Đức Thánh Linh lấy đó chỉ ra rằng hễ đền tạm thứ nhất đang còn, thì đường vào nơi rất thánh chưa mở.
9Mepukat karajepa eu en anjau wet, pwe kijakij o mairon en wiaui lole, a re jota kak kapunala nan injen en i, me kin kapwaiada dodok on Kot wet.
9Aáy là một hình bóng chỉ về đời bây giờ, để tỏ rằng các lễ vật và hi sinh dâng đó, không có thể làm cho kẻ thờ phượng được vẹn lành về lương tâm.
10Pwe met akan wiauita, pwen pil ian mana o nim, o jon en kamakelekel akan, o tiak en kamaui pali uduk, me pan wiaui, lao lel anjau me mau jon.
10Đó chẳng qua là mạng lịnh của xác thịt, cũng như các lễ ăn, uống, rửa sạch, chỉ lập cho đến kỳ hoán cải vậy.
11A Krijtuj me kotido, pwen jamero lapalap en dipijou en mur, ap kotin weid nan im likau eu, me lapa jan o mau jan men maj o, me kaidin wiaui kidar pa, o me jota udan pali pa et,
11Nhưng Đấng Christ đã hiện đến, làm thầy tế lễ thượng phẩm của những sự tốt lành sau nầy; Ngài đã vượt qua đền tạm lớn hơn và trọn vẹn hơn, không phải tay người dựng ra, nghĩa là không thuộc về đời nầy;
12Pil jota kotikilon ntan kut ol de kau pul a pein nta pan mepak, me a kotikilon nan pera jaraui melel, pwen lapwapan dip joutuk.
12Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời.
13Pwe ma ntan kut o kau ol o paj en kau li ujupeki me jamin kan ap kaminela o kajarauiala pali uduk o,
13Vì nếu huyết của dê đực bò đực cùng tro bò cái tơ mà người ta rưới trên kẻ ô uế còn làm sạch được phần xác thịt họ và nên thánh thay,
14Daduen ntan Krijtuj jo mau jan kaualap, me tonmeteki pein on Kot ren Nen joutuk, me jota me
14huống chi huyết của Đấng Christ, là Đấng nhờ Đức Thánh Linh đời đời, dâng chính mình không tì tích cho Đức Chúa Trời, thì sẽ làm sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết, đặng hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống, là dường nào!
15I me a kotin wiala jauntom en inau kap; a matala wiauier, pwen lapwada japun kan, me wiauier pan inau kaieu, pwe irail me paeker akan en ale inau en jojo joutuk.
15Nhân đó, Ngài là Đấng trung bảo của giao ước mới, để khi Ngài chịu chết mà chuộc tội đã phạm dưới giao ước cũ, thì những kẻ được kêu gọi nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình.
16Pwe ma inau en jojo en pwaida, i me wiadar inau o, pan mela maj.
16Vì khi có chúc thơ, thì cần phải đợi đến kẻ trối chết đã.
17Pwe inau en jojo kak pwaida murin aramaj a mela, ma jo, a join pan kareda meakot, arain mour en i, me wiadar inau o.
17Chúc thơ chỉ có giá trị sau lúc chết, vì hễ kẻ trối còn sống thì nó không có quyền gì.
18I me inau kaieu jota pan pwaida, ma nta jo ian.
18Aáy vậy, chính giao ước trước nào chẳng phải là không dùng máu mà lập.
19Pwe kujoned en kapun karoj lau loki on aramaj karoj renMojej, a ap ale ntan kau o kut ianaki pil o wunen man waitata ijop, ap ujupeki puk o aramaj akan karoj, majani:
19Lúc Môi-se phán mọi điều răn của luật pháp cho dân chúng, có lấy máu của bò con và dê đực, với nước, dây nhung đỏ tía và nhành ngưu tất rảy trên sách cùng trên cả dân chúng,
20Iet ntan inau, me Kot kotiki on komail er.
20mà nói rằng: Nầy là huyết của sự giao ước mà Đức Chúa Trời đã dạy lập với các ngươi.
21A pil ujupeki nta im likau o kapwa en papa kan.
21Đoạn, người cũng lấy huyết rảy đền tạm cùng mọi đồ thờ.
22O koren ion karoj panmakele kida nta duen kapun o, a ma jo inta, nan jota dip me pan lapwada.
22Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch: không đổ huyết thì không có sự tha thứ.
23I me a mau on mom en dipijou en nanlan kan en kamakelekele kida mepukat. A dipijou en nanlan en kamakele kida mairon eu, me mau jan mepukat.
23Vậy, nếu những tượng chỉ về các vật trên trời đã phải nhờ cách ấy mà được sạch, thì chính các vật trên trời phải nhờ của lễ càng quí trọng hơn nữa để được sạch.
24Pwe Krijtuj jota kotolon on nan pera jaraui, me pa wiaui kida pwe i mom en me melel, a a kotilon on nan nanlan, pwen pwaralan mon jilan en Kot pweki kitail.
24Vả Đấng Christ chẳng phải vào nơi thánh bởi tay người làm ra, theo kiểu mẫu nơi thánh thật, bèn là vào chính trong trời, để bây giờ vì chúng ta hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời.
25A jota kotilon on, pwen tomki pein i pan pak toto dueta jamero lapalap, me kin pedelon on nan pera jaraui ni par karoj ianaki ntan man oko.
25Aáy chẳng phải là dâng chính mình Ngài nhiều lần, như thầy tế lễ thượng phẩm mỗi năm vào trong nơi rất thánh mà dâng huyết không phải là huyết mình;
26Ma iduen, nan a pan matala pan pak toto jan nin tapin aramaj akan, a met ni imwin anjau kan, a kotin pwarado pan mepak, pwen lapwada dip akan ki pein a mairon.
26bằng chẳng vậy, thì từ buổi sáng thế đến nay, Ngài đã phải chịu khổ nhiều lần rồi. Nhưng hiện nay đến cuối cùng các thời đại, Ngài đã hiện ra chỉ một lần, dâng mình làm tế lễ để cất tội lỗi đi.
27A duen a kileledier on aramaj akan, en mela pan mepak, a muri kadeik o,
27Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét,
28Iduen Krijtuj me matalar pan mepak, pwen lapwada dip en me toto. A ni a pan kotin puredo, a pan pwara don ir, me kin auiaui i, a kaidin pweki dip, a pwen kamaur ir ala.
28cũng vậy, Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi cho kẻ chờ đợi Ngài.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.