2 Царів 22
Kulish and Puluj Bible (1905)Translation
Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Вісїм год було Йосії, як він настав царем, а трийцять і один рік царював у Ерусалимі. Матїр його звали Едида Адаївна, з Бозкафи.
1Khi Giô-si-a lên làm vua, được tám tuổi; người cai trị ba mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ người tên là Giê-đi-đa, con gái của A-đa-gia, cháu Bô-cát.
2І чинив він те, що було Господеві до вподоби, й ходив як раз дорогою предка свого Давида й не хибив з неї нї праворуч, нї лїворуч.
2Người làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va, đi theo trọn con đường của Đa-vít, tổ phụ mình, không tẻ tách hoặc về bên hữu, hoặc về bên tả.
3У вісїмнайцятому ж роцї царя Йосії послав царь писаря Шафана, сина Азаліїного, Мешулламенка, у храм Господень, повелїваючи:
3Năm thứ mười tám đời Giô-si-a, vua sai thơ ký Sa-phan, con trai A-xa-lia, cháu Mê-su-lam, đến đền Đức Giê-hô-va, mà dặn rằng:
4Ійди до первосьвященника Хелкії, нехай він перелїчить гроші, що приношено в храм Господень, і що сторожі порогові зібрали від народу,
4Hãy đi lên thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia, đếm bạc đã đem đến trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, tức là bạc mà các người giữ cửa đền thờ đã thâu lấy nơi dân sự;
5І нехай передадуть їх наставникам ремісників, приставленим до храму Господнього, а сї нехай роздадуть їх робітникам в дому Господньому на направу попсованого в храму,
5đoạn hãy giao bạc ấy cho những kẻ coi sóc việc đền thờ của Đức Giê-hô-va, để họ giao lại cho thợ sửa sang các nơi hư nứt của đền thờ,
6Теслям, каменотесам та мурарям, та й на закуп дерева й тесаного каміння до направи храму;
6tức thợ mộc, thợ xây cất, thợ hồ, và dùng mua gỗ và đá đẽo đặng tu bổ đền lại.
7Однакже не требувати від них рахунку з грошей переданих у їх руки, бо вони орудують чесно.
7Song chớ tính sổ bạc giao nơi tay chúng, vì chúng vốn làm thành thực.
8І сказав первосьвященник писареві Шафанові: Я знайшов книгу закону в дому Господньому. І подав Хелкія Шафанові книгу, й той читав її.
8Thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia nói với thơ ký Sa-phan rằng: Tôi đã tìm được quyển luật pháp trong đền thờ Đức Giê-hô-va. Hinh-kia trao quyển sách đó cho Sa-phan, và người đọc nó.
9І вернувся писарь Шафан до царя, й здав цареві справу, говорючи: Слуги твої взяли гроші, що знайшлись у храму, й передали їх наставникам над роботами, приставленим до храму Господнього.
9Đoạn, thơ ký Sa-phan đến tìm vua, thuật lại điều này mà rằng: Các tôi tớ vua đã đóng bạc tìm đặng trong đền thờ, và đã giao nơi tay các người lo coi sóc công việc đền thờ của Đức Giê-hô-va.
10І оповідав писарь Шафан цареві: Сьвященник Хелкія дав менї книгу. І читав її Шафан перед царем.
10Thơ ký Sa-phan lại nói rằng: Thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia có trao cho tôi một quyển sách; đoạn, Sa-phan đọc sách đó trước mặt vua.
11Почувши царь слова книги закону, роздер одежу на собі.
11Vua vừa nghe các lời của sách luật pháp, liền xé quần áo mình.
12І повелїв царь сьвященникові Хелкії та Ахикамові Шафаненкові, та Ахборові Михеєнкові, та писареві Шафанові, та Асаїї, слузї царському, говорючи:
12Đoạn, vua truyền lịnh cho thầy tế lễ Hinh-kia, cho A-hi-cam, con trai Sa-phan, cho Aïc-bồ, con trai Mi-ca-gia, cho Sa-phan, thơ ký, và cho A-sa-gia, đầy tớ của vua, mà rằng:
13Ійдїте й поспитайте Господа за мене й за нарід і за всю Юдею що до слів сієї книги, що знайдено; великий бо гнїв Господень запалав на нас за те, що батьки наші не слухали словес книги сієї, щоб так притьма чинити, як нам приписано.
13Hãy đi cầu vấn Đức Giê-hô-va cho ta, cho dân sự, và cho cả Giu-đa, về các lời của sách mới tìm được. Vì cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng chúng ta thật là lớn lao, tại tổ phụ chúng ta không có nghe theo các lời của sách này, và không làm theo điều đã truyền phán cho chúng ta.
14І пійшов сьвященник Хелкія з Ахикамом, Ахбором, Шафаном й Асаїєю до пророчицї Олдами, жони Шаллумової, сина Тикви Хархасенка, доглядника одеж, — жила ж вона в Ерусалимі, в другій частї — й розмовляли вони з нею.
14Vậy, thầy tế lễ Hinh-kia, A-hi-cam, Aïc-bồ, Sa-phan, và A-sa-gia đi tìm nữ tiên tri Hun-đa, vợ của Sa-lum, người giữ áo lễ, con trai của Tiếc-va, cháu của Hạt-ha; người ở tại Giê-ru-sa-lem, trong quận thứ nhì. Chúng nói chuyện với nàng,
15І промовила вона до них: Так говорить Господь, Бог Ізрайлїв: Скажіте чоловікові, що вас до мене послав:
15nàng bèn nói rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên nói như vầy: Hãy nói với người sai các ngươi đến ta rằng:
16Тако глаголе Господь: Ось я наведу лихо на се місце й на осадники його, — всї погрози в книзї, що прочитав царь Юдейський.
16Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ dẫn tai họa trên chỗ này và trên dân cư nó, làm hoàn thành mọi lời của sách mà vua Giu-đa đã đọc.
17За те, що покинули мене та й кадять иншим богам, щоб мене підпалювати на гнїв усїма вчинками рук своїх, запалав гнїв мій проти місця сього та й не погасне.
17Bởi vì dân Giu-đa đã lìa bỏ ta, đốt hương cho các thần khác, chọc giận vì các công việc của tay chúng nó, nên cơn giận ta sẽ nổi lên cùng chỗ này, không hề nguôi.
18Цареві ж Юдейському, що вас послав поспитати Господа, скажіте: Так говорить Господь, Бог Ізрайлїв, що до слів, які ти чув:
18Còn về vua Giu-đa đã sai các người cầu vấn Đức Giê-hô-va, thì hãy nói với người rằng: Về các lời người đã nghe Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy:
19Що твоє серце помякшало й ти впокорився перед Господом, як почув єси, що я висказав проти сього місця й осадників його, що вони викличуть страх і прокляттє, та що роздер єси одежу на собі й плакав передо мною, за се й я вислухав тебе, — говорить Господь.
19Khi ngươi nghe lời ta phán nghịch cùng chỗ này, và nghịch cùng dân cư nó rằng, chỗ này sẽ bị phá hoang, dân cư trở thành rủa sả, thì ngươi có lòng mềm mại, hạ mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, xé quần áo mình, và khóc lóc trước mặt ta; bởi vậy cho nên ta cũng có nghe ngươi.
20Оце ж я прилучу тебе до батьків твоїх, і ти спочнеш в твойму гробовищі в мирі, а очі твої не побачать всїх злигоднїв, що я наведу на се місце. І принесли вони цареві відповідь.
20Kìa, ta sẽ thâu ngươi về cùng các tổ phụ ngươi; và ngươi sẽ được thâu vào nơi mồ mả ngươi cách bình an, và mắt ngươi sẽ chẳng thấy những điều tai họa mà ta toan giáng xuống trên chỗ nầy. Chúng bèn tâu lại cho vua những lời ấy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.