2 Царів 2
Kulish and Puluj Bible (1905)Translation
Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Того часу, як Господь схотїв взяти Ілию у вихрі на небо, йшов Ілия з Елисеєм із Галгалу.
1Khi Đức Giê-hô-va muốn đem Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc, Ê-li và Ê-li-sê ở Ghinh ganh đi ra.
2І сказав Ілия до Елисея: Зостанься тут, бо Господь послав мене в Бетель. Та Елисей відказав: Так певно, як Господь живе, не покину тебе. От і пійшли вони в Бетель.
2Ê-li nói với Ê-li-sê rằng: Ta xin ngươi hãy ở đây; vì Đức Giê-hô-va sai ta đi đến Bê-tên. Ê-li-sê thưa với người rằng: Tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề rằng, tôi chẳng hề lìa khỏi thầy. Như vậy, hai người đi xuống Bê-tên.
3І повиходили сини (ученики) пророцькі, що були в Бетелї, до Елисея та й кажуть йому: Чи знаєш, що Господь сьогоднї вознесе пана твого над головою твоєю? Відказав він: І я се знаю; мовчіть!
3Các môn đồ của những tiên tri ở tại Bê-tên đến nói với Ê-li-sê rằng: Anh có biết rằng ngày nay Đức Giê-hô-va sẽ cất thầy của anh lên khỏi anh chăng? Người đáp: Phải, ta biết; các ngươi hãy làm thinh đi!
4І рече йому Ілия: Елисею, зостанься тут, бо Господь посилає мене в Ерихон. Він же відказав: Так певно, як Господь живе, й так вірно, як ти живеш, я не покину тебе. От і пійшли вони в Ерихон.
4Ê-li nói với Ê-li-sê rằng: Ta xin ngươi hãy ở đây, vì Đức Giê-hô-va sai ta đi đến Giê-ri-cô. Ê-li-sê lại thưa rằng: Tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề rằng, tôi chẳng hề lìa khỏi thầy. Như vậy, hai người đi đến Giê-ri-cô.
5І повиходили сини пророків, що були в Ерохонї до Елисея, та й промовили до його: Чи знаєш, що Господь сьогоднї вознесе твого пана над головою твоєю? Відказав він: І я се знаю; мовчіть!
5Các môn đồ của những tiên tri ở tại Giê-ri-cô đến gần Ê-li-sê, nói với người rằng: Anh có biết rằng ngày nay Đức Giê-hô-va sẽ cất thầy của anh lên khỏi anh chăng? Người đáp: Phải, ta biết; các ngươi hãy làm thinh đi!
6І рече Ілия до його: Зостанься ж тут, бо Господь послав мене на Йордань. Він же відказує: Так певно, як Господь живе, й як ти живеш, не покину тебе! От і пійшли вони обидва.
6Ê-li nói với người rằng Ta xin ngươi hãy ở đây, vì Đức Giê-hô-va sai ta đi đến Giô-đanh. Ê-li-sê thưa rằng: Tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề rằng, tôi chẳng hề lìa khỏi thầy. Như vậy, hai người cứ đi với nhau.
7Пятьдесять же чоловіка синів пророцьких пійшли на бік та й стояли оддалеки їх, вони ж оба станули над Йорданню.
7Có năm mươi người trong các môn đồ của những tiên tri đi theo, đứng cách xa đối ngang Giô-đanh; còn Ê-li và Ê-li-sê đứng lại tại mé sông.
8І взяв Елия гуню свою, згорнув її та й ударив по водї, й розступилась вода на обидва боки, так що вони обидва перейшли по сусї.
8Ê-li bèn lấy áo tơi mình, cuốn lại, đập trên nước; nước bèn rẽ ra hai bên, và hai người đều đi ngang qua trên đất khô.
9Як перейшли, промовив Ілия до Елисея: Проси, що тобі вчинити, перш нїж буду взятий від тебе. Відказав Елисей: Нехай би у менї було удвоє духа, що в тобі.
9Khi đi qua rồi, Ê-li nói với Ê-li-sê rằng: Hãy xin điều ngươi muốn ta làm cho ngươi, trước khi ta được cất lên khỏi ngươi. Ê-li-sê thưa rằng: Nguyền xin thần của thầy cảm động tôi được bội phần.
10І сказав той: Важкого просиш. Та коли бачити меш, як я буду взятий від тебе, так воно й станеться; коли ж не побачиш, то не станеться.
10Ê-li nói với người rằng: Ngươi cầu xin một sự khó. Song nếu ngươi thấy ta lúc ta được cất lên khỏi ngươi, ắt sẽ được như lời bằng chẳng, thì không được.
11Тим часом, як вони в такій розмові йшли далїй, зявилась несподївано поломяна колесниця з поломяними кіньми. Вони їх розлучили, й понесли Ілию в бурі на небо.
11Hai người cứ vừa đi vừa nói với nhau, kìa, có một cái xe lửa và ngựa lửa phân rẽ hai người; Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc.
12Вбачаючи се, Елисей закричав: Батеньку мій, батеньку! ой колеснице Ізрайлева й візниче його! Та не бачив його більш. І вхопив одежу свою та й роздер надвоє.
12Ê-li-sê nhìn thấy, bèn la lên rằng: Cha tôi ôi! cha tôi ôi! là xe và lính kỵ của Y-sơ-ra-ên! Đoạn, Ê-li-sê không còn thấy người nữa; rồi người nắm áo mình xé ra làm hai mảnh.
13І підняв Ілиїну гуню, що впала з його, й вернувсь та й став на березї Йорданї.
13Ê-li-sê bèn lấy cái áo tơi đã ở nơi mình Ê-li rơi xuống, trở về, đứng tại trên mé Giô-đanh.
14І взяв гуню Ілиїну, що з його впала, й вдарив нею по водї, та вода не розступилась. І сказав він: Де ж є Бог Ілиїн? І вдарив вдруге по водї, й вона розступилась сюди й туди, й перейшов Елисей.
14Người lấy cái áo tơi đã ở nơi mình Ê-li rơi xuống, đập nước, và nói rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Ê-li ở đâu? Khi người đã đập nước rồi, nước bèn rẽ ra hai bên, và Ê-li-sê đi ngang qua.
15І побачили сини пророків, що були в Ерихонї навпроти, та й промовили: Дух Ілиїн опочив на Елисеї. І пійшли зустріч йому, й вклонились перед ним до землї;
15Khi các môn đồ của những tiên tri ở Giê-ri-cô đối ngang Giô-đanh, thấy Ê-li-sê, thì nói rằng: Thần Ê-li đổ trên Ê-li-sê. Họ đến đón người, sấp mình xuống đất trước mặt người,
16І промовили до його: Ось у нас тут, у твоїх рабів, пятьдесять кріпких мужів; нехай йдуть та шукають пана твого; може дух Господень занїс його та покинув на котрій горі, або на якій долинї. Він же сказав: Не посилайте.
16và nói với người rằng: Tại đây, giữa các tôi tớ thầy, có năm mươi người mạnh dạn; hãy cho phép họ đi tìm chủ thầy; có lẽ Thần của Đức Giê-hô-va đem người đi, ném trên núi nào hay là trong trũng nào chăng? Ê-li-sê đáp: Chớ sai họ đi.
17Як же вони всиловувались аж надто, сказав він: То посилайте. І послали вони пятьдесять чоловіка, й шукали три днї, та не знайшли.
17Nhưng chúng nài ép người, đến đỗi người xấu hổ, bèn nói rằng: Hãy sai họ đi đi. Chúng liền sai năm mươi người đi tìm Ê-li trong ba ngày, mà tìm chẳng đặng.
18І вернулись до його, покіль він гаявсь у Ерихонї. І сказав їм: Чи я ж вам не казав, щоб не ходили?
18Chúng trở về, Ê-li-sê vẫn ở tại Giê-ri-cô; người bèn nói với họ rằng: Ta há chẳng bảo các ngươi chớ có đi sao?
19І казали міські люде Елисеєві: Гарний видом сей город, як сам бачиш, добродїю, та вода непогожа, й земля не родить.
19Dân cư của Giê-ri-cô nói cùng Ê-li-sê rằng: Chỗ xây cất thành này tốt lắm y như chúa tôi thấy; nhưng nước thì độc và đất thì chai.
20І промовив він: Принесїть менї нову посудину й вкиньте соли туди. Як же ж вони принесли,
20Người đáp: Hãy đem cho ta một cái bình mới, và đựng muối ở trong. Chúng đem bình đến cho người.
21Пійшов він до криничаного жерела, вкинув соли, й рече: Так говорить Господь: Я зробив сю воду здоровою, тепер уже не буде від неї нї смертї, нї невроджаю.
21Người bèn đi đến nguồn nước, đổ muối xuống nước, mà nói rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta đã chữa lành cho nước này, tự nó sẽ chẳng còn gây ra sự chết, hoặc sự nân nữa.
22Так і зробилась вода погожою по сей день, по слову, що промовив Елисей.
22Vậy, theo lời của Ê-li-sê phán ra, nước được chữa lành còn đến ngày nay.
23Звідти ж пійшов він у Бетель. Як же він ійшов дорогою, повибігали малі дїти з городу та й сьміялись із його, покликуючи: Ходи лисий, ходи лисий!
23Từ đó, Ê-li-sê đi lên Bê-tên. Đang đi dọc đường, có những trẻ con trai ở thành ra nhạo báng người, mà rằng: ù lão trọc, hãy lên! ù lão trọc, hãy lên!
24Він же обернувсь і, побачивши їх, прокляв їх імям Господнїм. І вийшли дві ведмедицї з гаю та й роздерли сорок і двоє дїтей.
24Người xây lại ngó chúng nó, và nhân danh Đức Giê-hô-va mà rủa sả chúng nó. Liền có hai con gấu cái ra khỏi rừng, cấu xé bốn mươi hai đứa trong bọn chúng nó.
25Звідти подався він на Кармель-гору, а відсї вернувсь в Самарию.
25Từ đó Ê-li-sê đi đến núi Cạt-mên; đoạn từ nơi ấy người trở về Sa-ma-ri.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.