Psalmen
Chapter 107
Petrus Canisius Bible, 1…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Brengt Jahweh dank, want Hij is goed, En zijn genade duurt eeuwig!
1Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
2Zo moeten getuigen, die door Jahweh verlost zijn, En door Hem uit de nood zijn gered;
2Các người Đức Giê-hô-va đã chuộc Khỏi tay kẻ hà hiếp hãy nói điều đó,
3Die Hij van alle kant hierheen heeft gebracht, Van oost en west, van noord en zuid.
3Tức là các người Ngài đã hiệp lại từ các xứ; Từ phương đông, phương tây, phương bắc, phương nam.
4Sommigen doolden in woestijn en wildernis rond, Zonder de weg naar hun woonplaats te vinden;
4Họ lưu lạc nơi đồng vắng, trong con đường hiu quạnh, Không tìm thành ở được;
5Ze leden honger en dorst, En hun leven verkwijnde.
5Họ bị đói khát, Linh hồn bèn nao sờn trong mình họ.
6Maar ze riepen Jahweh aan in hun nood, En Hij verloste hen van hun angsten:
6Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va; Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan,
7Hij bracht ze weer op de veilige weg, Zodat ze hun woonplaats bereikten.
7Dẫn họ theo đường ngay thẳng, Đặng đi đến một thành ở được.
8Laat ze Jahweh voor zijn goedheid dan danken, En voor zijn wonderen voor de kinderen der mensen:
8Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người!
9Want den dorstige heeft Hij gelaafd, Den hongerige heeft Hij verzadigd!
9Vì Ngài làm cho lòng khao khát được thỏa thích, Khiến cho hồn đói được đầy dẫy vật tốt.
10Anderen zaten in duister en donker, In ellende en boeien gekluisterd;
10Những kẻ ở trong tối tăm và bóng sự chết, Bị khốn khổ và xích sắt bắt buộc,
11Want ze hadden zich tegen Gods geboden verzet, En de vermaning van den Allerhoogste veracht;
11Bởi vì đã bội nghịch lời Đức Chúa Trời, Và khinh dể sự khuyên dạy của Đấng Chí cao.
12Zo was door rampspoed de moed hun ontzonken, En reddeloos stortten ze neer.
12Nhân đó Ngài lấy sự lao khổ hạ lòng họ xuống; Họ vấp ngã không ai giúp đỡ.
13Maar ze riepen Jahweh aan in hun nood, En Hij verloste hen van hun angsten:
13Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va; Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan,
14Hij haalde ze uit het duister en donker, En verbrak hun boeien.
14Rút họ khỏi sự tối tăm và bóng sự chết, Cũng bẻ gãy xiềng của họ.
15Laat ze Jahweh voor zijn goedheid dan danken, En voor zijn wonderen voor de kinderen der mensen:
15Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người!
16Want metalen poorten heeft Hij verbrijzeld, Ijzeren grendels in stukken geslagen!
16Vì Ngài đã phá cửa đồng, Và gãy các song sắt.
17Anderen werden ziek door hun zondige wandel, Hadden smarten te lijden om hun schuld;
17Kẻ ngu dại bị khốn khổ Vì sự vi phạm và sự gian ác mình;
18Alle voedsel begon hun te walgen, En ze stonden al dicht bij de poorten des doods.
18Lòng chúng nó gớm ghê các thứ đồ ăn; Họ đến gần cửa sự chết.
19Maar ze riepen Jahweh aan in hun nood, En Hij verloste hen van hun angsten.
19Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan.
20Hij sprak: en ze werden genezen, En Hij ontrukte hen weer aan het graf.
20Ngài ra lịnh chữa họ lành, Rút họ khỏi cái huyệt.
21Laat ze Jahweh voor zijn goedheid dan danken, En voor zijn wonderen voor de kinderen der mensen:
21Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người!
22Laat ze dankoffers brengen, En jubelend zijn werken vermelden!
22Nguyện chúng dâng của lễ thù ân, Lấy bài hát vui mừng mà thuật các công việc Ngài.
23Anderen staken op schepen in zee, Om handel te drijven op de onmetelijke wateren.
23Có người đi xuống tàu trong biển, Và làm việc nơi nước cả;
24Ook zij hebben Jahweh’s werken aanschouwd, In de kolken zijn wonderen.
24Kẻ ấy thấy công việc Đức Giê-hô-va, Xem phép lạ Ngài trong nước sâu.
25Hij sprak: en er stak een stormwind op, Die zwiepte de golven omhoog;
25Ngài biểu, bèn có trận gió bão, Nổi các lượn sóng lên.
26Ze vlogen op naar de hemel, ploften neer in de diepten, En vergingen van angst;
26Đưa cao đến các từng trời, rồi hụp xuống tới vực sâu: Lòng họ tiêu tan vì khốn khổ.
27Ze rolden en tuimelden, als waren ze dronken, En al hun zeemanschap was tevergeefs.
27Họ choáng váng xiêu tó như một người say, Sự khôn ngoan họ đều mất hết.
28Maar ze riepen Jahweh aan in hun nood, En Hij verloste hen van hun angsten:
28Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan.
29Hij bedaarde de storm tot een bries, En de golven legden zich neer;
29Ngài ngừng bão-tố, đổi nó ra bình tịnh, Và sóng êm lặng.
30Wat waren ze blij, toen het kalm was geworden, En Hij hen naar de verbeide haven geleidde!
30Họ bèn vui mừng vì sóng êm lặng; Chúa dẫn họ vào bến họ ước ao.
31Laat ze Jahweh voor zijn goedheid dan danken, En voor zijn wonderen voor de kinderen der mensen:
31Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người!
32Hem in de volksgemeente roemen, Hem in de raad der oudsten prijzen!
32Người ta cũng hãy tôn cao Ngài trong hội dân sự, Và ngợi khen, Ngài tại nơi hiệp tập các trưởng lão.
33Rivieren maakt Hij tot steppe, Waterbronnen tot dorstige grond;
33Ngài đổi sông ra đồng vắng, Suối nước thành đất khô,
34Vruchtbaar land tot zilte bodem, Om de boosheid van zijn bewoners.
34Và đất màu mỡ ra đất mặn, Vì cớ sự gian ác của dân ở tại đó.
35Maar van de steppe maakt Hij een vijver, Waterbronnen van het dorre land;
35Ngài biến đồng vắng thành ao nước, Đất khô ra những suối nước;
36Daar zet Hij de hongerigen neer, Om er zich een woonplaats te stichten.
36Ngài làm cho những kẻ đói được ở tại đó, Họ xây lập thành đặng ở.
37Ze bezaaien hun akkers, beplanten hun gaarden, En oogsten hun vruchten.
37Họ gieo ruộng và trồng nho, Ruộng và nho sanh bông trái.
38Hij zegent hen: ze worden zeer talrijk, En Hij vermeerdert hun vee.
38Đức Chúa Trời ban phước cho họ đến đỗi họ sanh sản nhiều thêm; Ngài không để cho súc vật họ bị hao hớt.
39En nemen ze af in getal, en gaan ze ten onder Door verdrukking, ellende en jammer:
39Họ lại bị hạ số và phải cực lòng Vì sự hà hiếp, sự gian nan, và sự buồn rầu.
40Dan geeft Hij de tyrannen prijs aan de schande, En laat ze door de wildernis dolen.
40Ngài đổ sự nhuốc nhơ trên vua chúa, Khiến họ phải lưu lạc trong nơi vắng vẻ không đường.
41Maar den arme heft Hij uit de ellende weer op, En maakt zijn geslacht weer talrijk als kudden:
41Nhưng Ngài vớt kẻ thiếu thốn khỏi hoạn nạn, Làm cho người ấy được gia quyến đông như bầy chiên.
42De vromen zien het, en juichen; Maar wat boos is, zwijgt stil.
42Các người ngay thẳng sẽ thấy điều ấy, và vui vẻ, Còn các kẻ ác đều phải ngậm miệng lại.
43Wie wijs is, neemt het ter harte, En beseft de goedheid van Jahweh!
43Phàm kẻ nào khôn ngoan sẽ chú ý về điều nầy, Và suy gẫm sự nhân từ của Đức Giê-hô-va.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.