Марко 3
Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicTranslation
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
Vietnamese Bible (1923 translation)
1И уђе опет у зборницу, и онде беше човек са сувом руком.
1Lần khác, Đức Chúa Jêsus vào nhà hội, ở đó có một người nam teo bàn tay.
2И мотраху за Њим неће ли га у суботу исцелити да Га окриве.
2Chúng rình xem thử Ngài có chữa người đó trong ngày Sa-bát chăng, đặng cáo Ngài.
3И рече човеку са сувом руком: Стани на средину.
3Ngài phán cùng người teo tay rằng: hãy dậy, đứng chính giữa đây.
4И рече им: Ваља ли у суботу добро чинити или зло чинити? Душу одржати, или погубити? А они су ћутали.
4rồi Ngài hỏi họ rằng: trong ngày Sa-bát, nên làm việc lành hay việc dữ, cứu người hay giết người? Nhưng họ đều nín lặng.
5И погледавши на њих с гневом од жалости што су им онако срца одрвенила, рече човеку: Пружи руку своју. И пружи; и поста рука здрава као и друга.
5Bấy giờ, Ngài lấy mắt liếc họ, vừa giận vừa buồn vì lòng họ cứng cỏi, rồi phán cùng người nam rằng: hãy giơ tay ra. Người giơ ra, thì tay được lành.
6И изашавши фарисеји одмах учинише за Њега веће с Иродовцима како би Га погубили.
6Các người Pha-ri-si đi ra, tức thì bàn luận với phe Hê-rốt nghịch cùng Ngài, đặng giết Ngài đi.
7А Исус оде с ученицима својим к мору; и многи народ из Галилеје пође за Њим и из Јудеје;
7Đức Chúa Jêsus cùng môn đồ Ngài lánh ra nơi bờ biển, có đoàn dân đông lắm từ xứ Ga-li-lê đến theo Ngài. Từ xứ Giu-đê,
8и из Јерусалима и из Идумеје и испреко Јордана и од Тира и Сидона мноштво велико чувши шта Он чини дође к Њему.
8thành Giê-ru-sa-lem, xứ Y-đu-mê, xứ bên kia sông Giô-đanh, miền xung quanh thành Ty-rơ và thành Si-đôn cũng vậy, dân đông lắm, nghe nói mọi việc Ngài làm, thì đều đến cùng Ngài.
9И рече ученицима својим да буде лађа у Њега готова због народа, да Му не досађује.
9Bởi cớ dân đông, nên Ngài biểu môn đồ sắm cho mình một chiếc thuyền nhỏ sẵn sàng, đặng cho khỏi bị chúng lấn ép Ngài quá.
10Јер многе исцели тако да наваљиваху на Њега који беху накажени болестима да Га се дотакну.
10Vì Ngài đã chữa lành nhiều kẻ bịnh, nên nỗi ai nấy có bịnh chi cũng đều áp đến gần để rờ Ngài.
11И духови нечисти кад Га виђаху, припадаху к Њему и викаху говорећи: Ти си Син Божји.
11Khi tà ma thấy Ngài, bèn sấp mình xuống nơi chân Ngài mà kêu lên rằng: Thầy là Con Đức Chúa Trời!
12И много им прећаше да Га не прокажу.
12Song Ngài nghiêm cấm chúng nó chớ tỏ cho ai biết mình.
13И изиђоше на гору, и дозва које Он хтеше; и дођоше Му.
13Kế đó, Đức Chúa Jêsus lên trên núi, đòi những người Ngài muốn, thì những người ấy đến kề Ngài.
14И постави дванаесторицу да буду с Њим, и да их пошаље да проповедају,
14Ngài bèn lập mười hai người, gọi là sứ đồ, để ở cùng Ngài và sai đi giảng đạo,
15и да имају власт да исцељују од болести, и да изгоне ђаволе:
15lại ban cho quyền phép đuổi quỉ.
16Првог Симона, и надеде му име Петар;
16Nầy là mười hai sứ đồ Ngài đã lập: Si-môn, Ngài đặt tên là Phi-e-rơ;
17и Јакова Зеведејевог и Јована брата Јаковљевог, и надеде им имена Воанергес, које значи Синови грома;
17Gia-cơ con Xê-bê-đê, và Giăng em Gia-cơ, Ngài đặt tên hai người là Bô-a-nẹt, nghĩa là con trai của sấm sét;
18и Андрију и Филипа и Вартоломија и Матеја и Тому и Јакова Алфејевог и Тадију и Симона Кананита,
18Anh-rê, Phi-líp, Ba-thê-lê-my, Ma-thi-ơ, Thô-ma, Gia-cơ con A-phê, Tha-đê, Si-môn người Ca-na-an,
19и Јуду Искариотског, који Га и издаде.
19và Giu-đa ỗch-ca-ri-ốt, chính tên nầy đã phản Ngài.
20И дођоше у кућу, и сабра се опет народ да не могаху ни хлеба јести.
20Đức Chúa Jêsus cùng môn đồ vào trong một cái nhà; đoàn dân lại nhóm họp tại đó, đến nỗi Ngài và môn đồ không ăn được.
21И чувши то род Његов изиђоше да Га ухвате; јер говораху да је изван себе.
21Những bạn hữu Ngài nghe vậy, bèn đến để cầm giữ Ngài; vì người ta nói Ngài đã mất trí khôn.
22А књижевници који беху сишли из Јерусалима говораху: У њему је Веелзевул. Он помоћу кнеза ђаволског изгони ђаволе.
22Có các thầy thông giáo ở thành Giê-ru-sa-lem xuống, nói rằng: Người bị quỉ Bê-ên-xê-bun ám, và nhờờờờờờ chúa quỉ mà ttttttrừ quỉ.
23И дозвавши их говораше им у причама: Како може сотона сотону изгонити?
23Song Đức Chúa Jêsus kêu họ đến, dùng lời thí dụ mà phán rằng: Sao quỉ Sa-tan đuổi được quỉ Sa-tan?
24И ако се царство само по себи раздели, не може остати царство оно;
24Nếu một nước tự chia nhau, thì nước ấy không thể còn được;
25и ако се дом сам по себи раздели, не може остати дом онај;
25lại nếu một nhà tự chia nhau, thì nhà ấy không thể còn được.
26и ако сотона устане сам на се и раздели се, не може остати, него ће пропасти.
26Vậy, nếu quỉ Sa-tan tự dấy lên nghịch cùng mình, tất nó bị chia xé ra, không thể còn được; song nó đã gần đến cùng rồi.
27Нико не може покућство јакога, ушавши у кућу његову, отети ако најпре јакога не свеже: и онда ће кућу његову опленити.
27Chẳng ai có thể vào nhà một người mạnh sức cướp lấy của người, mà trước hết không trói người lại; phải trói người lại, rồi mới cướp nhà người được.
28Заиста вам кажем: сви греси опростиће се синовима човечјим, и хуљења на Бога, макар каква била:
28Quả thật, ta nói cùng các ngươi, mọi tội lỗi sẽ tha cho con cái loài người, và hết thảy những lời phạm thượng họ sẽ nói ra cũng vậy;
29А који похули на Духа Светог нема опроштења вавек, него је крив вечном суду.
29nhưng ai sẽ nói phạm đến Đức Thánh Linh thì chẳng hề được tha, phải mắc tội đời đời.
30Јер говораху: У њему је нечисти дух.
30Ngài phán như vậy, vì họ nói rằng: Người bị tà ma ám.
31И дође мати Његова и браћа Његова, и стојећи напољу послаше к Њему да Га зову.
31Mẹ và anh em Ngài đến, đứng ngoài sai kêu Ngài. Đoàn dân vẫn ngồi chung quanh Ngài.
32И сеђаше народ око Њега. И рекоше Му: Ето мати Твоја и браћа Твоја и сестре Твоје напољу питају за Те.
32Có kẻ thưa rằng: Nầy, mẹ và anh em thầy ở ngoài kia đang tìm thầy.
33И одговори им говорећи: Ко је мати моја или браћа моја?
33Song Ngài phán cùng họ rằng: Ai là mẹ ta, ai là anh em ta?
34И погледавши на народ који сеђаше рече: Ево мати моја и браћа моја.
34Ngài lại đưa mắt liếc những kẻ ngồi chung quanh mình mà phán rằng: Kìa là mẹ ta và anh em ta!
35Јер ко изврши вољу Божју, онај је брат мој и сестра моја и мати моја.
35Ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời, nấy là anh em, chị em, và mẹ ta vậy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.