Езекиел
Chapter 3
Cornilescu Bible (1924),…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Езекиел 3

Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ел мь-а зис: „Фиул омулуй, мэнынкэ че вей гэси ынаинтя та, мэнынкэ сулул ачеста ши ду-те де ворбеште касей луй Исраел!”
1Ngài bèn phán cùng ta rằng: Hỡi con người, hãy ăn vật ngươi thấy; hãy ăn cuốn nầy, rồi đi, và nói cùng nhà Y-sơ-ra-ên.
2Ам дескис гура ши мь-а дат сэ мэнынк сулул ачеста.
2Ta mở miệng ra, và Ngài khiến ta ăn cuốn ấy.
3Ел мь-а зис: „Фиул омулуй, хрэнеште-ць трупул ши умпле-ць мэрунтаеле ку сулул ачеста пе каре ци-л дау!” Л-ам мынкат, ши ын гура мя а фост дулче ка мьеря.
3Ngài phán: Hỡi con người, hãy lấy cuốn ta cho ngươi mà khiến bụng ăn và làm đầy ruột. Vậy ta ăn lấy, thì trong miệng ngọt như mật.
4Ел мь-а зис: „Фиул омулуй, ду-те ла каса луй Исраел ши спуне-ле кувинтеле Меле!
4Ngài lại phán: Hỡi con người, hãy đi, hãy đến cùng nhà Y-sơ-ra-ên, đem những lời ta, thuật lại cho chúng nó.
5Кэч ну ешть тримис ла ун попор ку о ворбире ынкуркатэ ши ку о лимбэ греоае, чи ла каса луй Исраел.
5Vả, ấy chẳng phải ta sai ngươi đến cùng dân nói tiếng mọi rợ khó hiểu; bèn là đến cùng nhà Y-sơ-ra-ên.
6Ну ла ниште попоаре марь, ку о ворбире ынкуркатэ ши ку о лимбэ греоае, але кэрор кувинте сэ ну ле поць причепе. Негрешит, дакэ те-аш тримите ла еле, те-ар аскулта!
6Thật, chẳng phải ta sai ngươi đến cùng nhiều dân nói tiếng mọi rợ khó hiểu, mà ngươi không thể hiểu lời chúng nó; nếu ta sai ngươi đến cùng chúng nó, chắc chúng nó sẽ nghe ngươi.
7Дар каса луй Исраел ну ва вои сэ те аскулте, пентру кэ ну вря сэ М-аскулте, кэч тоатэ каса луй Исраел аре фрунтя ынкрунтатэ ши инима ымпетритэ.
7Nhưng nhà Y-sơ-ra-ên sẽ chẳng nghe ngươi, vì nó không muốn nghe ta; bởi chưng cả nhà Y-sơ-ra-ên đều cứng trán cứng lòng.
8Ятэ, ыць вой фаче фаца тот аша де аспрэ ка ши фецеле лор ши фрунтя тот аша де аспрэ ка фрунтя лор.
8Nầy, ta làm cho mặt ngươi dạn nghịch cùng mặt chúng nó, trán ngươi cứng nghịch cùng trán chúng nó.
9Ыць вой фаче фрунтя ка ун диамант, май аспрэ декыт стынка. Ну те теме ши ну те сперия де ей, кэч сунт о касэ де ындэрэтничь!”
9Ta làm cho trán ngươi cứng như kim cương, cứng hơn đá lửa. Đừng sợ và đừng run rẩy vì bộ mặt chúng nó, dầu chúng nó là nhà bạn nghịch mặc lòng!
10Ел мь-а зис: „Фиул омулуй, примеште ын инима та ши аскултэ ку урекиле тале тоате кувинтеле пе каре ци ле спун!
10Đoạn, Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con người, hãy nhận vào lòng và nghe vào tai mọi lời ta sẽ phán cùng ngươi.
11Ду-те ла принший де рэзбой, ла копиий попорулуй тэу, ворбеште-ле ши, фие кэ вор аскулта, фие кэ ну вор аскулта, сэ ле спуй: ‘Аша ворбеште Домнул Думнезеу!’”
11Hãy đi, đến cùng những kẻ bị đày, cùng các con cái của dân ngươi. Khá nói cùng chúng nó, dầu chúng nó nghe, dầu chẳng khứng nghe, ngươi cũng nói với rằng: Chúa Giê-hô-va có phán như vậy.
12Ши Духул м-а рэпит ши ам аузит ынапоя мя дырдыитул унуй маре кутремур де пэмынт: слава Домнулуй с-а ридикат дин локул ей.
12Bấy giờ Thần cất ta lên, và ta nghe có tiếng ào ào rất lớn ở đằng sau ta rằng: Đáng chúc phước cho sự vinh hiển Đức Giê-hô-va từ nơi Ngài!
13Ам аузит ши выжыитул арипилор фэптурилор вий, каре се ловяу уна де алта, хуруитул роцилор де лынгэ еле ши дырдыитул унуй маре кутремур де пэмынт.
13Ta cũng nghe tiếng cánh của các vật sống đập cái nầy với cái khác, tiếng của những bánh xe kề các vật ấy, và tiếng ào ào rất lớn.
14Кынд м-а рэпит Духул ши м-а луат, мерӂям амэрыт ши мыниос ши мына Домнулуй апэса таре песте мине.
14Đoạn, Thần cất ta lên và đem ta đi; ta đi, lòng ta đầy sự cay đắng nóng nảy, tay Đức Giê-hô-va đặt trên ta cách mạnh mẽ.
15Ам ажунс ла Тел-Абиб, ла робий де рэзбой каре локуяу ла рыул Кебар, ын локул унде се афлау, ши ам рэмас аколо, ынмэрмурит ын мижлокул лор, шапте зиле.
15Ta bèn đi đến Tên-A-bíp cùng những kẻ bị đày ở trên bờ sông Kê-ba. Ta dừng lại nơi họ đang ở, và trú lại giữa họ bảy ngày, buồn rầu lặng lẽ.
16Дупэ шапте зиле, кувынтул Домнулуй мь-а ворбит астфел:
16Khỏi bảy ngày, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
17„Фиул омулуй, те пун пэзитор песте каса луй Исраел. Кынд вей аузи ун кувынт каре ва еши дин гура Мя, сэ-й ынштиинцезь дин партя Мя!
17Hỡi con người, ta đã lập ngươi lên đặng canh giữ nhà Y-sơ-ra-ên; khá nghe lời từ miệng ta, và thay ta răn bảo chúng nó.
18Кынд вой зиче челуй рэу: ‘Вей мури негрешит!’, дакэ ну-л вей ынштиинца ши ну-й вей спуне ка сэ-л ынторчь де ла каля луй чя ря ши сэ-й скапь вяца, ачел ом рэу ва мури прин нелеӂюиря луй, дар ый вой чере сынӂеле дин мына та!
18Khi ta nói với kẻ dữ rằng: Mầy chắc sẽ chết! Nếu ngươi không răn bảo nó, không nói với nó đặng khuyên nó từ bỏ đường xấu để cứu mạng mình, thì người dự đó sẽ chết trong tội lỗi nó; nhưng ta sẽ đòi huyết nó nơi tay ngươi.
19Дар, дакэ вей ынштиинца пе чел рэу, ши ел тот ну се ва ынтоарче де ла рэутатя луй ши де ла каля чя ря, ва мури прин нелеӂюиря луй, дар ту ыць вей мынтуи суфлетул!
19Trái lại, nếu ngươi răn bảo kẻ dữ, mà nó không từ bỏ sự dự cùng đường xấu mình, thì nó sẽ chết trong tội lỗi nó; còn ngươi, thì giải cứu được linh hồn mình.
20Дакэ ун ом неприхэнит се ва абате де ла неприхэниря луй ши ва фаче че есте рэу, ый вой пуне ун лац ынаинте ши ва мури. Дакэ ну л-ай ынштиинцат, ва мури прин пэкатул луй ши ну и се ва май помени неприхэниря ын каре а трэит, дар ый вой чере сынӂеле дин мына та!
20Cũng một lẽ ấy, nếu người công bình bỏ sự công bình mà phạm tội, và ta đặt sự ngăn trở trước mặt nó, thì nó sẽ chết. Thế thì, vì ngươi không răn bảo người ấy, nên nó sẽ chết trong tội lỗi nó, và không còn được ghi nhớ những việc công bình nó đã làm; nhưng ta sẽ đòi huyết nó nơi tay ngươi.
21Дар, дакэ вей ынштиинца пе чел неприхэнит сэ ну пэкэтуяскэ ши ну ва пэкэтуи, ва трэи пентру кэ а примит ынштиинцаря, яр ту ыць вей мынтуи суфлетул!”
21Trái lại, nếu ngươi răn bảo người công bình, khiến đừng phạm tội, mà thật ra nó không phạm tội, thì chắc nó sẽ sống, vì đã nghe lời răn bảo; còn ngươi, thì giải cứu được linh hồn mình.
22Ши мына Домнулуй а венит песте мине аколо ши мь-а зис: „Скоалэ-те, ду-те ын вале ши аколо ыць вой ворби!”
22Tại đó, tay Đức Giê-hô-va ở trên ta, và Ngài phán cùng ta rằng: Hãy chờ dậy, đi trong nơi đồng bằng, tại đó ta sẽ phán cùng ngươi.
23М-ам скулат ши м-ам дус ын вале ши ятэ кэ слава Домнулуй с-а арэтат аколо, аша кум о вэзусем ла рыул Кебар. Атунч ам кэзут ку фаца ла пэмынт.
23Vậy ta chờ dậy và ra đi trong đồng bằng. Nầy, sự vinh hiển Đức Giê-hô-va đứng đó, như sự vinh hiển ta đã thấy trên bờ sông Kê-ba. Ta bèn ngã sấp mặt xuống,
24Духул а интрат ын мине ши м-а фэкут сэ стау пе пичоаре. Ши Домнул мь-а ворбит ши мь-а зис: „Ду-те ши ынкиде-те ын касэ!
24thì Thần vào trong ta, làm cho chân ta đứng lên. Đoạn, Ngài phán cùng ta, và bảo rằng: Hãy đi, giam mình trong nhà ngươi.
25Кэч ятэ, фиул омулуй, вор пуне песте тине фуний ку каре те вор лега ка сэ ну май поць еши ын мижлокул лор.
25Hỡi con người, nầy, người ta sẽ lấy dây trói ngươi, và ngươi không thể đi ra giữa chúng nó.
26Ыць вой липи лимба де черул гурий ка сэ рэмый мут ши сэ ну-й поць мустра, кэч сунт о касэ де ындэрэтничь!
26Ta sẽ khiến lưỡi ngươi dính với cuống họng ngươi: ngươi sẽ câm, không quở trách chúng nó được; vì chúng nó là nhà bạn nghịch.
27Дар, кынд ыць вой ворби, ыць вой дескиде гура ка сэ ле спуй: ‘Аша ворбеште Домнул Думнезеу.’ Чине вря сэ аскулте, сэ аскулте; чине ну вря, сэ н-аскулте! Кэч сунт о касэ де ындэрэтничь!
27Nhưng khi ta phán cùng ngươi, ta sẽ mở miệng ngươi, và ngươi khá bảo chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ai nghe, hãy nghe; ai không nghe, thì đừng nghe! Vì chúng nó là nhà bạn nghịch.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.