Mác 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Đức Chúa Jêsus lại khởi sự giảng dạy nơi bờ biển; có một đoàn dân đông lắm nhóm lại xung quanh Ngài, Ngài bước lên trong một chiếc thuyền và ngồi đó, còn cả đoàn dân thì ở trên đất nơi mé biển.
1І почав знов навчати над морем; і назбиралось багато народу, так що Він увійшов у човен, щоб сидїти на морі; а ввесь народ був на землї при морю.
2Ngài lấy thí dụ dạy dỗ họ nhiều điều, và trong khi dạy, Ngài phán rằng:
2І навчав їх багато приповістями, й глаголав до них у науцї своїй:
3Hãy nghe. Có người gieo giống đi ra đặng gieo.
3Слухайте: Ось вийшов сїяч сїяти:
4Khi đang gieo, một phần giống rơi dọc đường, chim đến ăn hết.
4і сталось, як сїяв, одно впало над шляхом, і налетїло птаство небесне, й пожерло його.
5Một phần khác rơi nhằm nơi đất đá sỏi, chỉ có ít đất thịt, tức thì mọc lên, vì bị lấp không sâu;
5Инше ж упало на каменистому, де не мало доволї землї, і зараз посходило, бо не мало глибокої землї.
6nhưng khi mặt trời đã mọc, thì bị đốt, và bởi không có rễ, nên phải héo.
6Як же зійшло сонце, повяло, й, не маючи кореня, посохло.
7Một phần khác rơi nhằm bụi gai; gai mọc rậm lên làm cho nghẹt ngòi, và không kết quả.
7А инше попадало між тернину, й тернина, розвившись, поглушила його, і овощу не дало.
8Một phần khác nữa rơi nhằm nơi đất tốt, thì kết quả, lớn lên và nẩy nở ra; một hột ra ba chục, hột khác sáu chục, hột khác một trăm.
8А инше впало на землю добру, й дало плід, що сходив і ріс, і вродило одно в трийцятеро, а одно в шістьдесятеро а одно в сотеро.
9Ngài lại phán rằng: Ai có tai mà nghe, hãy nghe.
9І рече до них: Хто має уші слухати, нехай слухає.
10Khi Đức Chúa Jêsus ở một mình, những kẻ xung quanh Ngài cùng mười hai sứ đồ hỏi Ngài về các lời thí dụ.
10Як же був на самотї, питались у Него ті, що з Ним, разом з дванайцятьма, про приповість.
11Ngài phán rằng: Sự mầu nhiệm của nước Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho các ngươi; nhưng về phần người ngoài, thì dùng cách thí dụ để dạy mọi sự,
11І рече до них: Вам дано знати тайну царства Божого; тим же, що осторонь, у приповістях усе стаєть ся,
12hầu cho họ xem thì xem mà không thấy, nghe thì nghe mà không hiểu; e họ hối cải mà được tha tội chăng.
12щоб дивлячись дивились, та й не бачили, й слухаючи слухали, та й не розуміли, щоб инколи не навернулись, і не простились їм гріхи.
13Đoạn, Ngài phán rằng: Các ngươi không hiểu thí dụ ấy sao? Vậy thì thế nào hiểu mọi thí dụ được?
13І рече до них: Хиба не знаєте приповістї сієї? як же всї приповістї зрозумієте?
14Người gieo giống ấy là gieo đạo.
14Сїяч слово сїє.
15Những kẻ ở dọc đường là kẻ đã chịu đạo gieo nơi mình; nhưng vừa mới nghe đạo, tức thì quỉ Sa-tan đến, cướp lấy đạo đã gieo trong lòng họ đi.
15Що ж над шляхом, се ті, де сїється слово, й, як почують, зараз приходить сатана, й забирає слово, посїяне в серцях їх.
16Cũng vậy, những người chịu giống gieo nơi đất đá sỏi, là những kẻ nghe đạo, liền vui mừng chịu lấy;
16Подібно ж і ті, що на каменистому посїяні, котрі, як почують слово, зараз із радостю приймають його,
17song vì trong lòng họ không có rễ, chỉ tạm thời mà thôi, nên nỗi gặp khi vì cớ đạo mà xảy ra sự cực khổ, bắt bớ, thì liền vấp phạm.
17та не мають кореня в собі, а тільки до часу вони; опісля ж, як настане горе або гоненнє за слово, зараз блазнять ся.
18Còn những kẻ chịu giống gieo nơi bụi gai, là kẻ đã nghe đạo;
18А ті, що посїяні між терниною, се ті, що слухали слово,
19song sự lo lắng về đời nầy, sự mê đắm về giàu sang, và các sự tham muốn khác thấu vào lòng họ, làm cho nghẹt ngòi đạo, và trở nên không trái.
19та журба сьвіта сього, й омана багацтва, і инші жадоби входять, і глушять слово, й безовочним робить ся воно.
20Nhưng, những người chịu giống gieo vào nơi đất tốt, là kẻ nghe đạo, chịu lấy và kết quả, một hột ra ba chục, hột khác sáu chục, hột khác một trăm.
20А на землю добру посїяні, се ті, що чують слово й приймають, і приносять овощ, одно в трийцятеро, друге в шістьдесятеро, а инше в сотеро.
21Ngài lại phán cùng họ rằng: Có ai đem đèn để dưới cái thùng hoặc dưới cái giường chăng? Há chẳng phải để trên chân đèn sao?
21І рече до них: Чи на те приносять сьвітло, щоб ставити його під посудину, або під ліжко, а не щоб на сьвічнику ставити?
22Vì chẳng có điều chi kín mà không phải lộ ra, chẳng có điều chi giấu mà không phải rõ ràng.
22Нема бо нїчого схованого, щоб не обявилось; і не втаєно, а щоб на яв вийшло.
23Nếu ai có tai mà nghe, hãy nghe!
23Коли хто має уші слухати, нехай слухає.
24Ngài lại phán rằng: Hãy cẩn thận về điều mình nghe. Người ta sẽ đong cho các ngươi bằng lường các ngươi đã đong cho, và thêm vào đó nữa.
24І рече їм: Вважайте, що чуєте: Якою мірою міряєте, відміряєть ся вам, і прибавить ся вам, що слухаєте.
25Vì sẽ ban thêm cho kẻ nào có; nhưng kẻ nào không có, sẽ bị cất lấy điều mình đã có.
25Хто бо має, дасть ся йому; а хто не має, і що має, візьметь ся від него.
26Ngài lại phán rằng: Nước Đức Chúa Trời cũng như một người vải giống xuống đất;
26І рече: Так єсть царство Боже, як коли чоловік, що вкине зерно у землю,
27người ngủ hay dậy, đêm và ngày, giống cứ nẩy chồi mọc lên, mà người không biết thể nào.
27та й спить, і встає в ночі і в день, а зерно сходить і росте, як — він не знає.
28Vì đất tự sanh ra hoa lợi: ban đầu là cây, kế đến bông, đoạn bông kết thành hột.
28Від себе бо земля родить: спершу траву, потім колос, а далїй повну пшеницю в колосї.
29Khi hột đã chín, người ta liền tra lưỡi hái vào, vì mùa gặt đã đến.
29Як же доспіє овощ, зараз посилає серпа, бо настали жнива.
30Ngài lại phán rằng: Chúng ta sánh nước Đức Chúa Trời với chi, hay lấy thí dụ nào mà tỏ ra?
30І рече: Кому уподобимо царство Боже? або до якої приповісти приложимо його?
31Nước ấy giống như một hột cải: khi người ta gieo, nó nhỏ hơn hết các hột giống trên đất;
31Воно мов зерно горчицї, що, як сїєш його в землю, то воно дрібнїще від усїх зерен, які є на землї;
32song khi gieo rồi, nó mọc lên, trở lớn hơn mọi thứ rau, và nứt ra nhành lớn, đến nỗi chim trời núp dưới bóng nó được.
32а як посїєть ся, сходить, і робить ся більшим над усї зілля, і ширить велике віттє, так що під тїнню його кублитись може птаство небесне.
33Aáy bởi nhiều lời thí dụ như cách ấy mà Ngài giảng đạo cho họ, tùy theo sức họ nghe được.
33І многими такими приповістями глаголав їм слово, скільки могли слухати.
34Ngài chẳng hề giảng cho chúng mà không dùng thí dụ; nhưng, khi ở riêng, Ngài cắt nghĩa hết cho môn đồ mình.
34Без приповістї ж не говорив їм; на самотї ж ученикам своїм вияснював усе.
35Đến chiều ngày ấy, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy qua bờ bên kia.
35І рече їм того дня, як настав вечір: Перевезімось на той бік.
36Khi cho dân chúng tan về rồi, Đức Chúa Jêsus cứ ở trong thuyền, và môn đồ đưa Ngài đi; cũng có các thuyền khác cùng đi nữa.
36І, відпустивши народ, узяли Його, як був в човнї. І инші ж човни були з Ним.
37Vả, có cơn bão lớn nổi lên, sóng tạt vào thuyền, đến nỗi gần đầy nước;
37І схопилась велика вітряна буря, а филї заливали човен, так що вже тонув.
38nhưng Ngài đang ở đằng sau lái, dựa gối mà ngủ. Môn đồ thức Ngài dậy mà thưa rằng: Thầy ôi, thầy không lo chúng ta chết sao?
38А був Він на кермі, сплючи на подусцї. І розбудили Його, й кажуть Йому: Учителю, чи Тобі байдуже, що погибаємо?
39Ngài bèn thức dậy, quở gió và phán cùng biển rằng: Hãy êm đi, lặng đi! Gió liền dứt và đều yên lặng như tờ.
39І вставши, погрозив вітрові, і рече до моря: Мовчи, перестань! І втих вітер, і настала тишина велика.
40Đoạn, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi sợ? Chưa có đức tin sao?
40І рече їм: Чого ви такі полохливі? Як се? нема в вас віри?
41Môn đồ kinh hãi lắm, nói với nhau rằng: Vậy thì người nầy là ai, mà gió và biển cũng đều vâng lịnh người?
41І полякались страхом великим; і казали один до одного: Хто оце Сей, що й вітер і море слухає Його?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.