Mác 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Đức Chúa Jêsus lại khởi sự giảng dạy nơi bờ biển; có một đoàn dân đông lắm nhóm lại xung quanh Ngài, Ngài bước lên trong một chiếc thuyền và ngồi đó, còn cả đoàn dân thì ở trên đất nơi mé biển.
1HOOMAKA iho la oia e ao hou ma kapa o ka moanawai; a no ka nui loa o ka poe i akoakoa mai io na la, ee aku la ia maluna e kekahi moku, noho iho la maluna o ka wai, a pau mai la ka ahakanaka mauka, ma kapa o ka moanawai.
2Ngài lấy thí dụ dạy dỗ họ nhiều điều, và trong khi dạy, Ngài phán rằng:
2Ao nui mai la oia ia lakou ma na olelo nane, i mai la ia lakou ma kana ao ana,
3Hãy nghe. Có người gieo giống đi ra đặng gieo.
3E hoolohe mai; aia hoi, hele aku la kekahi kanaka lulu hua, e lulu.
4Khi đang gieo, một phần giống rơi dọc đường, chim đến ăn hết.
4A i kana lulu aua, helelei iho la kekahi ma kapa alanui, a lele mai la na manu o ka lewa, a ai iho la ia mea.
5Một phần khác rơi nhằm nơi đất đá sỏi, chỉ có ít đất thịt, tức thì mọc lên, vì bị lấp không sâu;
5Helelei iho la kekahi ma kahi paaa, kahi i nui ole ai kona lepo; kupu wawe ae la ia, no ka papau o ka lepo.
6nhưng khi mặt trời đã mọc, thì bị đốt, và bởi không có rễ, nên phải héo.
6A puka mai ka la, mae iho la ia, a maloo aku la, no ke aa ole.
7Một phần khác rơi nhằm bụi gai; gai mọc rậm lên làm cho nghẹt ngòi, và không kết quả.
7A helelei ae la kekahi mawaena o na kakalaioa; kupu mai la na kakalaioa, a kahihi iho la ia mea, nolaila, aole i hua mai ka hua.
8Một phần khác nữa rơi nhằm nơi đất tốt, thì kết quả, lớn lên và nẩy nở ra; một hột ra ba chục, hột khác sáu chục, hột khác một trăm.
8Helelei iho la kekahi ma kahi lepo maikai, a pun mai la i ka hua, i kupu a mahuahua, a hua mai, pakanakolu, a pakanaono kekahi, a pahaneri kekahi.
9Ngài lại phán rằng: Ai có tai mà nghe, hãy nghe.
9I mai la oia ia lakou, O ka mea pepeiao lohe la, e hoolohe mai ia.
10Khi Đức Chúa Jêsus ở một mình, những kẻ xung quanh Ngài cùng mười hai sứ đồ hỏi Ngài về các lời thí dụ.
10A loaa ia ia ka mehameha, alaila, ninau aku la ia ia ka poe e ku pu ana me ia, a me ka poe umikumamalua, i ua olelonane la.
11Ngài phán rằng: Sự mầu nhiệm của nước Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho các ngươi; nhưng về phần người ngoài, thì dùng cách thí dụ để dạy mọi sự,
11I mai la oia ia lakou, Ua haawiia mai ia oukou e ike i na mea pohihihi o ke aupuni o ke Akua; aka, ua naneia'ku na mea a pau i ka poe mawaho;
12hầu cho họ xem thì xem mà không thấy, nghe thì nghe mà không hiểu; e họ hối cải mà được tha tội chăng.
12I nana lakou a milimili, aole nae e ike; i hoolohe hoi a lohe, aole nae e hoomaopopo, o hoohulina mai lakou, a e kalaia ko lakou hala.
13Đoạn, Ngài phán rằng: Các ngươi không hiểu thí dụ ấy sao? Vậy thì thế nào hiểu mọi thí dụ được?
13Alaila, i mai la oia ia lakou, Aole anei oukou i ike i keia olelonane? Pehea la oukou e ike ai i na olelonane a pau?
14Người gieo giống ấy là gieo đạo.
14O ke kanaka lulu hua, ua lulu i ka olelo.
15Những kẻ ở dọc đường là kẻ đã chịu đạo gieo nơi mình; nhưng vừa mới nghe đạo, tức thì quỉ Sa-tan đến, cướp lấy đạo đã gieo trong lòng họ đi.
15Eia ka poe ma kapa alanui, ma kahi i luluia i ka olelo, a lohe lakou, alaila hele koke mai o Satana a kaili aku i ka olelo i luluia iloko o ko lakou naau.
16Cũng vậy, những người chịu giống gieo nơi đất đá sỏi, là những kẻ nghe đạo, liền vui mừng chịu lấy;
16Eia no hoi na mea i luluia ma kahi paaa; a lohe lakou i ka olelo, hopu koke lakou ia, me ka olioli.
17song vì trong lòng họ không có rễ, chỉ tạm thời mà thôi, nên nỗi gặp khi vì cớ đạo mà xảy ra sự cực khổ, bắt bớ, thì liền vấp phạm.
17Aka, aole o lakou mole iloko o lakou, nolaila, aole i mau, a hiki mai ka pilikia a me ka hoinoia no ka olelo, alaila, lilo koke lakou.
18Còn những kẻ chịu giống gieo nơi bụi gai, là kẻ đã nghe đạo;
18Eia hoi na mea i luluia iwaena o na kakalaioa, o ka poe i lohe i ka olelo,
19song sự lo lắng về đời nầy, sự mê đắm về giàu sang, và các sự tham muốn khác thấu vào lòng họ, làm cho nghẹt ngòi đạo, và trở nên không trái.
19A o ka manao nui i na mea o ke ao, a o ka hoopunipuni ana o ka waiwai, me ke kuko ana i na mea e, oia ka mea i iiia'i ka olelo, a lilo ia i mea hua ole.
20Nhưng, những người chịu giống gieo vào nơi đất tốt, là kẻ nghe đạo, chịu lấy và kết quả, một hột ra ba chục, hột khác sáu chục, hột khác một trăm.
20Eia no hoi na mea i luluia ma kahi lepo maikai; o na mea i hoolohe i ka olelo, a hoopaa iho, a hua mai i ka hua, pakanakolu kokahi, a pakanaono kekahi, a pahaneri kekahi.
21Ngài lại phán cùng họ rằng: Có ai đem đèn để dưới cái thùng hoặc dưới cái giường chăng? Há chẳng phải để trên chân đèn sao?
21I mai la oia ia lakou, Ua laweia mai anei he kukui e hahaoia'i malalo o ke poi, a malalo o kahi moe paha, aole anei no ke kania maluna o kahi e kau ai ke kukui?
22Vì chẳng có điều chi kín mà không phải lộ ra, chẳng có điều chi giấu mà không phải rõ ràng.
22No ka mea, aohe mea huna e koe i ka hoike ole ia, aole hoi he mea i uhi malu ia e koe i ka hu ole mawaho.
23Nếu ai có tai mà nghe, hãy nghe!
23Ina he pepeiao ko ke kauaka e lohe ai, e hoolohe mai ia.
24Ngài lại phán rằng: Hãy cẩn thận về điều mình nghe. Người ta sẽ đong cho các ngươi bằng lường các ngươi đã đong cho, và thêm vào đó nữa.
24I mai la oia ia lakou, E noonoo oukou i ka oukou mea e lohe ai: no ka mea, ma ke ana a oukou e ana aku ai, malaila e anaia mai no hoi oukou pela; a e haawi nui ia ia oukou, i ka poe e hoolohe mai
25Vì sẽ ban thêm cho kẻ nào có; nhưng kẻ nào không có, sẽ bị cất lấy điều mình đã có.
25O ka mea ua loaa, e haawiia 'ku nana; aka, o ka mea ua loaa ole, e kailiia'ku kana, mai ona aku la.
26Ngài lại phán rằng: Nước Đức Chúa Trời cũng như một người vải giống xuống đất;
26I mai la ia, Meneia ke aupuni o ke Akua, me ke kana ana a ke kanaka i ka hua ma ka lepo;
27người ngủ hay dậy, đêm và ngày, giống cứ nẩy chồi mọc lên, mà người không biết thể nào.
27A moe iho, a ala'e i ka po, a me ke ao, e kupu ae ana ua hua la a nui, aole nae ia i ike.
28Vì đất tự sanh ra hoa lợi: ban đầu là cây, kế đến bông, đoạn bông kết thành hột.
28No ka mea, hoohua wale mai no ka honua, mamua ka hoomaka, mahope iho ka huhui, alaila ka hua oo maloko o ka huhui.
29Khi hột đã chín, người ta liền tra lưỡi hái vào, vì mùa gặt đã đến.
29A i ka makaukau ana o ka hua, alaila, hookomo koke ae la ia i ka pahi, no ka mea, ua hiki mai ka wa e oki ai.
30Ngài lại phán rằng: Chúng ta sánh nước Đức Chúa Trời với chi, hay lấy thí dụ nào mà tỏ ra?
30I mai la oia, Me ke aha la kakou e hoohalike ai i ke aupuni o ke Akua? A ma ka nane hea kakou e hoakaka aku ai ia?
31Nước ấy giống như một hột cải: khi người ta gieo, nó nhỏ hơn hết các hột giống trên đất;
31Ua like no ia me ka hua makeke, i ka wa i kanuia'i ma ka lepo, he hua liilii loa ia o na hua a pau i kanuia ma ka lepo.
32song khi gieo rồi, nó mọc lên, trở lớn hơn mọi thứ rau, và nứt ra nhành lớn, đến nỗi chim trời núp dưới bóng nó được.
32Aka, i ka wa i kanuia'i, kupu no ia, a lilo i laalaau nui o na laalaau a pau, a opuu mai la na lala nui, a hiki no i na manu o ka lewa ke kau mai malalo o kona malu.
33Aáy bởi nhiều lời thí dụ như cách ấy mà Ngài giảng đạo cho họ, tùy theo sức họ nghe được.
33Hai mai la ia i ka olelo ia lakou ma ua olelonane e like me ia he nui loa, me lakou e hiki ai ke hoolohe aku.
34Ngài chẳng hề giảng cho chúng mà không dùng thí dụ; nhưng, khi ở riêng, Ngài cắt nghĩa hết cho môn đồ mình.
34Aole ia i olelo iki aku ia lakou ma ka olelonane ole; a ma kahi mehameha, hoakaka ae la ia i na mea a pau i kana poe haumana.
35Đến chiều ngày ấy, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy qua bờ bên kia.
35Ia la no, a ahiahi ae, i mai la ia ia lakou, E holo kakou i kela kapa.
36Khi cho dân chúng tan về rồi, Đức Chúa Jêsus cứ ở trong thuyền, và môn đồ đưa Ngài đi; cũng có các thuyền khác cùng đi nữa.
36A haalele aku la lakou i ka ahakanaka, a lawe aku la ia ia e noho ana ma ka moku: he mau moku liilii no hoi kekahi me ia pu.
37Vả, có cơn bão lớn nổi lên, sóng tạt vào thuyền, đến nỗi gần đầy nước;
37Nou mai la ka makani ikaika, uhi mai la na ale iluna o ka moku, a piha iho la ia.
38nhưng Ngài đang ở đằng sau lái, dựa gối mà ngủ. Môn đồ thức Ngài dậy mà thưa rằng: Thầy ôi, thầy không lo chúng ta chết sao?
38E moe ana ia ma ka uluna, ma ka hope o ka moku; hoala ae la lakou ia ia, i aku la, E ke Kumu, he mea ole anei ia oe ke make makou?
39Ngài bèn thức dậy, quở gió và phán cùng biển rằng: Hãy êm đi, lặng đi! Gió liền dứt và đều yên lặng như tờ.
39Alaila ku ae la ia iluna, papa ae la i ka makani, a olelo ae la i ka moanawai, Hamau, e noho malie. Oki iho la ka makani, a pohu maikai iho la.
40Đoạn, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi sợ? Chưa có đức tin sao?
40I mai la oia ia lakou, No ke aha la oukou i makau ai? Pehea ko oukou manaoio ole ana?
41Môn đồ kinh hãi lắm, nói với nhau rằng: Vậy thì người nầy là ai, mà gió và biển cũng đều vâng lịnh người?
41Weliweli loa ae la lakou, i ae la kekahi i kekahi, Heaha la ke ano o ia nei, i hoolohe pono ai ka makani a me ka moanawai ia ia?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.